Bài toán hóc búa của EVN cho tăng trưởng hai con số
Với yêu cầu đầu tư trung bình 5 tỷ USD mỗi năm cho hạ tầng và lưới điện, EVN sẽ giải bài toán khó này như thế nào để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi một bước chuyển về tư duy chính sách và thực hiện của ngành điện. Ảnh: Hoàng Anh
Yêu cầu mới về an ninh năng lượng
Với vai trò là hai đầu tàu kinh tế của cả nước, trong dòng chảy mục tiêu tăng trưởng hai con số, Hà Nội đặt mục tiêu tổng thu ngân sách nhà nước năm 2026 đạt dự toán giao trên 650 ngàn tỷ đồng, trong khi TP.HCM đang đặt mục tiêu tổng thu ngân sách 1 triệu tỷ đồng.
Trong vai trò này, việc bảo đảm năng lượng điện cho mục tiêu tăng trưởng là điều kiện đặc biệt quan trọng đối với hai đầu tàu kinh tế, nhất là trong bối cảnh cả Hà Nội và TP.HCM đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ công nghệ cao, tập trung vào các lĩnh vực như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, logistics, hạ tầng số, AI, kinh tế xanh và sản xuất công nghệ cao.
Thậm chí, đi sâu hơn vào bức tranh này, vai trò của điện năng còn vượt ra ngoài câu chuyện “đủ điện cho sản xuất”, mà trở thành nền tảng cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia. Bởi trong kỷ nguyên kinh tế số và công nghiệp công nghệ cao, điện không chỉ phục vụ vận hành nhà máy, mà còn là “hạ tầng của hạ tầng” cho toàn bộ nền kinh tế.
Không đáp ứng đủ điện sẽ không có tăng trưởng, không thể thu hút vòng vốn FDI quy mô lớn, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ toàn cầu vốn yêu cầu cực kỳ khắt khe về độ ổn định của hệ thống điện, hạ tầng dữ liệu và cam kết chuyển dịch năng lượng xanh.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 – 2030, yêu cầu đối với ngành điện cũng không còn dừng ở mức “đi trước một bước”, mà phải đi trước nhiều bước với quy mô đầu tư khổng lồ, tốc độ triển khai nhanh và năng lực dự phòng đủ lớn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực cho biết, tốc độ tăng nhu cầu điện giai đoạn 2021-2025 khoảng 8% mỗi năm, nhưng với mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số, theo tính toán, giai đoạn 2026–2030 có thể tăng lên mức 10 - 15% mỗi năm. Đây là mức tăng rất cao, đồng nghĩa hệ thống điện phải mở rộng với tốc độ nhanh chưa từng có.

Ảnh: Việt Dương
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm không chỉ là tốc độ tăng trưởng, mà là sự thay đổi mạnh trong cấu trúc phụ tải.
Nếu như trước đây, nhu cầu điện chủ yếu đến từ các lĩnh vực sản xuất truyền thống, thì nay, với sự phát triển của xe điện, logistics, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số, đã hình thành những “cụm phụ tải lớn” cùng đặc điểm tiêu thụ điện liên tục, cường độ cao. Thực tế này đặt ra những yêu cầu về chất lượng và độ ổn định trong cung cấp điện ngày càng khắt khe hơn.
Không những vậy, với dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian gần đây, tập trung vào công nghệ cao, bán dẫn, AI và hạ tầng số, đi cùng với làn sóng đầu tư này cũng đặt ra áp lực lớn lên hạ tầng điện. Các nhà đầu tư không chỉ yêu cầu nguồn điện ổn định, mà còn đòi hỏi khả năng tích hợp năng lượng tái tạo, đảm bảo tiêu chuẩn ESG và giảm thiểu rủi ro gián đoạn vận hành.
Trong khi đó, hệ thống lưới điện Việt Nam đang chịu áp lực ngày càng lớn từ quá trình chuyển dịch năng lượng, đồng thời nhu cầu sử dụng điện tại các khu công nghệ, trung tâm dữ liệu, AI… tăng nhanh, đòi hỏi hạ tầng phải nâng cao khả năng tích hợp và vận hành linh hoạt.

Trong bối cảnh sắp tới, vai trò của điện năng là hạ tầng cốt lõi khi không có điện sẽ không có tăng trưởng, ảnh hưởng đến thu hút FDI. Ảnh: Hoàng Anh
Bảo đảm điện cho tăng trưởng: Cần chủ động đi trước nhiều bước
Theo báo của EVN, cho tới nay, hệ thống điện Việt Nam có quy mô đứng thứ hai Đông Nam Á và thứ 22 thế giới, tổng công suất lắp đặt đạt 87.600MW. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống điện duy trì trong nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN, trong khi chỉ số tiếp cận điện năng được Ngân hàng Thế giới xếp thứ hai Đông Nam Á sau Singapore.
Những con số này cho thấy hạ tầng điện của Việt Nam đã phát triển nhanh trong nhiều năm qua. Trong 5 năm gần đây, EVN duy trì đầu tư lớn cho nguồn và lưới điện với tổng vốn gần 500.000 tỷ đồng riêng năm 2025 đạt 125.778 tỷ đồng. Nhờ đó, tỷ lệ hộ dân có điện đạt 99,85%; trong đó, khu vực nông thôn đạt 99,77%.
Đồng thời, hệ thống điện được hiện đại hóa với gần 1.000 trạm biến áp 110kV, gần 200 trạm 220kV và 35 trạm 500kV vận hành tự động; 12 dịch vụ điện được cung cấp trực tuyến cấp độ 4 và tỷ lệ thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 99,95%. Tuy nhiên, những nền tảng này chỉ đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hiện tại, trong khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra áp lực lớn hơn nhiều.

Một số mục tiêu trong Điều chỉnh Quy hoạch Điện 8. Nguồn: Hiệp hội năng lượng Việt Nam.
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng công suất nguồn toàn hệ thống đạt trên 183.000MW. Như vậy, mỗi năm phải bổ sung khoảng 8.000 - 10.000MW nguồn điện mới, cao gấp nhiều lần so với mức tăng bình quân hơn 3.000MW mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2024.
Ông Đặng Hoàng An, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, riêng tập đoàn sẽ phải phát triển khoảng 13.000MW nguồn điện mới đến năm 2030, phần còn lại gần 83.000MW sẽ do các nhà đầu tư khác triển khai.
Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 25 tỷ USD trong vòng 5 năm tới (giai đoạn 2026-2030) để phát triển nguồn và lưới điện, tương đương mức đầu tư trung bình khoảng 5 tỷ USD mỗi năm, là một con số rất nặng với EVN. Dù vậy, như chia sẻ của lãnh đạo tập đoàn, EVN sẽ quyết tâm bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng kinh tế, xem đây không chỉ là nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh đơn thuần mà còn là trách nhiệm nền tảng đối với an ninh năng lượng quốc gia và mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, áp lực đặt lên EVN không chỉ nằm ở việc phát triển thêm nguồn điện mới, mà còn ở yêu cầu đồng bộ hạ tầng truyền tải, nâng cao khả năng điều độ hệ thống, hấp thụ năng lượng tái tạo cũng như bảo đảm ổn định điện cho các trung tâm công nghiệp, đô thị và hạ tầng dữ liệu quy mô lớn.
Điều này cũng đồng nghĩa EVN đang bước vào chu kỳ đầu tư mới với quy mô chưa từng có, nơi bài toán không chỉ là vốn mà còn tốc độ triển khai, năng lực quản trị dự án và khả năng cân bằng giữa đảm bảo an ninh năng lượng, hiệu quả tài chính và yêu cầu chuyển dịch xanh của nền kinh tế.
Thực tế, áp lực cung ứng điện đã bắt đầu thể hiện rõ ngay từ đầu năm 2026 khi hệ thống điện Việt Nam đã lập kỷ lục mới về công suất cực đại vượt mốc 52.000MW - mức thường chỉ xuất hiện vào cao điểm tháng 6 - 7, phản ánh rõ tác động của nắng nóng đến sớm dưới ảnh hưởng của El Nino.
Điều đáng chú ý theo các chuyên gia không chỉ nằm ở con số, mà ở thời điểm xuất hiện khi việc phụ tải đạt đỉnh sớm hơn từ một đến hai tháng đã rút ngắn đáng kể “khoảng đệm” chuẩn bị của hệ thống điện, đồng thời buộc các nguồn điện phải bước vào trạng thái vận hành cường độ cao ngay từ đầu mùa khô.
TS. Nguyễn Huy Hoạch, chuyên gia, thành viên hội đồng khoa học Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho hay, trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện cho thấy việc huy động công suất từ thủy điện giảm mạnh, nhiệt điện than phải “gánh” vai trò chủ lực trong bối cảnh chi phí nhiên liệu tiếp tục chịu áp lực từ biến động địa - chính trị.
Những tín hiệu này không chỉ là hiện tượng nhất thời, mà là cảnh báo sớm cho một mùa khô có thể vận hành trong trạng thái “không bình thường” - nơi vai trò của EVN và sự phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) trở thành yếu tố quyết định bảo đảm an ninh cung cấp điện.
Điều này đòi hỏi EVN phải kích hoạt các dự án trọng điểm với tốc độ tối đa, đảm bảo không có bất kỳ sự gián đoạn nào trong chuỗi cung ứng điện năng trong xu hướng điện hóa nền kinh tế gắn với chuyển dịch năng lượng, đặc biệt là tại khu vực miền Bắc nơi công suất dự phòng hiện tại vẫn ở mức thấp.
Tuy vậy, ở góc độ xa hơn và dài hạn hơn, để EVN thể hiện rõ vai trò chủ lực trong phát triển hạ tầng năng lượng - nền tảng vật chất cốt lõi cho tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch năng lượng, cần thiết phải có những cơ chế đủ mạnh về vốn, giá điện, đầu tư và điều phối hệ thống nhằm tạo dư địa cho tập đoàn triển khai chu kỳ đầu tư mới với quy mô chưa từng có.
Bởi trên thực tế, yêu cầu đặt ra hiện nay không còn đơn thuần là “đủ điện”, mà là bảo đảm một hệ thống điện có khả năng dự phòng cao, vận hành linh hoạt, hấp thụ tốt năng lượng tái tạo và đủ sức đồng hành với quá trình điện hóa nền kinh tế trong nhiều thập kỷ tới.
Cần lưu ý rằng, theo tính toán của EVN, riêng tập đoàn này sẽ phải phát triển khoảng 13.000MW nguồn điện mới đến năm 2030, phần còn lại gần 83.000MW sẽ do các nhà đầu tư khác triển khai.
Chỉ riêng tỷ lệ này cũng cho thấy bảo đảm điện cho tăng trưởng cao không còn là bài toán của một doanh nghiệp mà là của toàn bộ hệ sinh thái năng lượng quốc gia, cần sự phối hợp đồng bộ giữa doanh nghiệp nhà nước (EVN) và khối đầu tư tư nhân.
Việc xóa bỏ các rào cản, giảm thiểu những bất cập trong bài toán về giá FIT và COD khiến hơn 4.000MW điện tái tạo có nguy cơ gián đoạn dòng tiền, hay những khác biệt lợi ích tồn tại giữa nhà nước – nhà đầu tư tư nhân – EVN liên quan đến cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu (Qc) gây bế tắc ở các dự án điện khí (LNG) thời gian vừa qua, là vấn đề cần sớm được giải quyết một cách triệt để.
Bởi nếu các điểm nghẽn này tiếp tục kéo dài, không chỉ ảnh hưởng tới niềm tin của nhà đầu tư, mà còn có nguy cơ làm chậm tiến độ huy động nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng điện – lĩnh vực đang cần lượng vốn khổng lồ trong nhiều năm tới.











