Bánh phồng Sơn Đốc nức tiếng xứ dừa: Giữ nghề trăm năm

Bánh phồng Sơn Đốc vang danh Bến Tre hơn 100 năm nhờ nếp sáp, nước cốt dừa và kỹ thuật quết truyền thống, nay vẫn phát triển mạnh.

Bánh phồng Sơn Đốc vẫn được khách hàng ưa chuộng dịp Tết - Ảnh: V.K.K

Bánh phồng Sơn Đốc vẫn được khách hàng ưa chuộng dịp Tết - Ảnh: V.K.K

Nhắc đến đặc sản miền Tây, có những món ăn chỉ cần nghe tên đã gợi cả một miền ký ức. Với người dân Nam Bộ, câu nói “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” không chỉ là lời giới thiệu sản vật, mà còn là sự khẳng định về hai làng nghề trứ danh của Bến Tre – nơi lưu giữ tinh hoa của đất và người xứ dừa.

Nếu bánh tráng Mỹ Lồng nổi tiếng bởi độ mỏng, dẻo và thơm, thì bánh phồng Sơn Đốc lại khiến người ta nhớ bằng một thứ âm thanh rất riêng: tiếng chày giã bộp bộp vang lên trong đêm, tiếng lao động nhịp nhàng như đánh thức mùa xuân, như báo hiệu Tết đang về trên vùng sông nước Bến Tre.

Trải qua thời gian, biến động xã hội và cả những thay đổi hành chính mới nhất, bánh phồng Sơn Đốc vẫn bền bỉ giữ nghề, giữ vị và vươn xa.

Cối quết bánh phồng thủ công - Ảnh: V.K.K

Cối quết bánh phồng thủ công - Ảnh: V.K.K

Sơn Đốc sau sáp nhập: địa giới thay đổi, thương hiệu vẫn còn nguyên

Theo các nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính mới nhất có hiệu lực từ năm 2025, địa bàn ấp Sơn Đốc thuộc xã Hưng Nhượng, tỉnh Vĩnh Long. Hiện nay, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc vẫn tập trung chủ yếu tại ấp Sơn Đốc, xã Hưng Nhượng. Dù có thay đổi về ranh giới hành chính cấp xã, cái tên Sơn Đốc gần như không thể thay thế. Bởi trong lòng người dân miền Tây, Sơn Đốc không chỉ là địa danh mà còn là một thương hiệu chỉ dẫn truyền thống, gắn với giá trị văn hóa và kinh tế đã hình thành qua hơn 100 năm.

Có thể nói, địa giới có thể “sáp nhập”, nhưng thương hiệu Sơn Đốc thì không thể hòa tan, bởi đó là kết tinh của một làng nghề sống cùng Tết, sống cùng ký ức.

Danh tiếng bánh phồng Sơn Đốc bắt nguồn từ đất, nếp và dừa

Không phải ngẫu nhiên mà bánh phồng Sơn Đốc trở thành “huyền thoại” trong ẩm thực Nam Bộ. Danh tiếng ấy được tạo nên từ ba yếu tố then chốt: nguyên liệu đặc thù – kỹ thuật chế biến – bản sắc vùng miền.

Bà Nguyễn Thị Tư, người làm bánh phồng Sơn Đốc cho biết, người làm bánh luôn chọn nếp sáp dẻo thơm – thứ nếp nổi tiếng của vùng Giồng Trôm. Nếp sáp cho hạt dẻo, khi nấu thành xôi vẫn giữ được độ kết dính, tạo nên khối bột “quết” mềm mịn và dai vừa phải. Đây là điều kiện quan trọng để bánh khi nướng có thể nở phồng gấp 3-4 lần, giòn rụm mà không bị bể.

Quy trình làm bánh phồng, cán bánh phồng - Ảnh: Văn Kim Khanh

Quy trình làm bánh phồng, cán bánh phồng - Ảnh: Văn Kim Khanh

Điểm đặc biệt thứ hai là nước cốt dừa. Bến Tre vốn được xem là “thủ phủ dừa” của miền Tây, và người Sơn Đốc đã khéo léo đưa vị béo của dừa vào chiếc bánh, tạo nên hương vị không lẫn với bất kỳ vùng nào khác.

Nhưng nếu chỉ có nếp và dừa thì chưa đủ làm nên thương hiệu. Bánh phồng Sơn Đốc còn nổi bật nhờ kỹ thuật giã bánh – một công đoạn đòi hỏi sức lực và kinh nghiệm.

Khác với bánh tráng được tráng từ bột nước, bánh phồng Sơn Đốc được làm từ xôi nếp chín, sau đó đem quết (giã) cho thật nhuyễn. Tiếng chày quết bánh đều đều trong đêm không chỉ là nhịp lao động mà còn là âm thanh mang tính biểu tượng, gắn liền với không khí Tết của vùng quê Bến Tre.

Lịch sử hơn 100 năm và câu chuyện “ông tổ nghề” không tên

Theo truyền khẩu của người dân địa phương, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc đã tồn tại hơn 100 năm. Thuở ban đầu, bánh chỉ được làm trong phạm vi gia đình, xuất hiện trong các mâm cỗ cúng tổ tiên, lễ giỗ, cưới hỏi và đặc biệt là ngày Tết.

Trong quan niệm Nam Bộ, Tết không thể thiếu bánh trái. Nhà nghèo thì bánh ít, nhà khá thì bánh nhiều, nhưng bánh làm ra không chỉ để ăn mà còn để dâng cúng ông bà, gửi gắm ước vọng năm mới sung túc.

Nhờ hương vị thơm ngon và độ “phồng” độc đáo, bánh phồng Sơn Đốc dần trở thành món hàng hóa. Những chuyến ghe xuồng ngày trước đã đưa bánh đi khắp Nam Kỳ lục tỉnh, theo các chợ quê, chợ huyện rồi lan rộng ra nhiều tỉnh miền Tây. Ngày nay bánh phồng Sơn Đốc được ‘những người Sơn Đốc’ đưa bán đến nhiều tỉnh trong vùng bằng xe gắn máy.

Điều đặc biệt là làng nghề Sơn Đốc không có một “ông tổ” cụ thể được ghi rõ trong sử sách. Dân gian chỉ kể rằng các bậc tiền hiền khai khẩn đã mang nghề làm bánh từ miền ngoài vào, rồi biến tấu để phù hợp vùng đất mới. Nghề được truyền theo kiểu “mẹ truyền con nối”, giữ bí quyết trong gia đình, dòng họ, để rồi qua thời gian, Sơn Đốc trở thành vùng đất mà nhắc đến là nhắc đến bánh phồng.

Công đoạn phơi bánh phồng - Ảnh: V.K.K

Công đoạn phơi bánh phồng - Ảnh: V.K.K

Bánh phồng Sơn Đốc ngày nay có nhiều loại, không còn chỉ một vị

Nếu trước đây bánh phồng Sơn Đốc chỉ có một loại truyền thống, thì ngày nay sự phát triển của thị trường đã thúc đẩy các cơ sở đa dạng hóa sản phẩm.

Hiện bánh phồng Sơn Đốc phổ biến với các dòng như: bánh phồng nếp truyền thống làm từ nếp, đường và dừa, giữ đúng hương vị cổ truyền; bánh phồng nếp mít thơm lừng mùi mít chín, vị ngọt nhẹ dễ ăn; bánh phồng nếp sầu riêng béo đậm, thơm nồng, phù hợp người chuộng vị đặc sản; bánh phồng sữa kết hợp nước cốt dừa và sữa đặc, tăng độ béo và hấp dẫn giới trẻ.

Sự đa dạng này giúp bánh phồng Sơn Đốc không chỉ là món bánh ngày Tết mà đã trở thành đặc sản dùng quanh năm, phù hợp làm quà biếu, quà du lịch.

Cái ngon của bánh phồng Sơn Đốc nằm ở chữ “phồng”

Điều làm nên khác biệt của bánh phồng Sơn Đốc chính là khả năng nở phồng đúng nghĩa.

Ông Lê Văn Tân, gia đình làm nghề bánh phồng Sơn Đốc 30 năm, cho rằng khi đặt lên bếp than hồng, chiếc bánh nhỏ xíu ban đầu chỉ cỡ lòng bàn tay sẽ nở lớn gấp 3-4 lần, trở nên mỏng tang, giòn rụm. Lúc bánh vừa nở, mặt bánh ánh vàng, tỏa hương thơm của nếp quyện với mùi cốt dừa, khiến người đứng gần chỉ cần hít một hơi đã thấy bụng “cồn cào”.

Người ăn bánh phồng Sơn Đốc thường cảm nhận rất rõ ba tầng vị: vị thơm nồng của nếp nướng, vị béo ngậy mà thanh của nước cốt dừa, và vị ngọt dịu của đường – không gắt, không ngán.

Bánh ngon nhất là lúc vừa nướng xong, còn nóng giòn. Chỉ cần bẻ nhẹ, bánh vỡ “rốp” một tiếng, giòn tan trong miệng, để lại hậu vị ngọt bùi rất lâu.

Bếp quê nướng bánh phồng Sơn Đốc ngày Tết - Ảnh: T.L

Bếp quê nướng bánh phồng Sơn Đốc ngày Tết - Ảnh: T.L

Làng nghề Sơn Đốc đang phát triển mạnh, không hề lụi tàn

Trong bối cảnh nhiều nghề truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, bánh phồng Sơn Đốc lại có hướng đi tích cực. Nhiều cơ sở đã ứng dụng máy quết bánh thay cho giã thủ công hoàn toàn. Nhờ đó, năng suất tăng gấp nhiều lần, giảm sức lao động mà vẫn giữ được độ dẻo của bánh. Tuy vậy, công đoạn pha trộn nguyên liệu và kỹ thuật phơi bánh vẫn đòi hỏi kinh nghiệm, bởi chỉ cần sai độ nắng, sai độ dày là bánh sẽ kém ngon.

Đáng chú ý, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, góp phần khẳng định giá trị văn hóa của nghề truyền thống này.

Cùng với đó, bánh phồng Sơn Đốc ngày nay đã được đóng gói chuyên nghiệp, có bao bì, nhãn mác rõ ràng, từng bước đưa sản phẩm ra thị trường lớn, tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại, thậm chí xuất khẩu sang các nước có cộng đồng người Việt sinh sống.

Bánh phồng Sơn Đốc sau khi nướng nở to - Ảnh: V.K.K

Bánh phồng Sơn Đốc sau khi nướng nở to - Ảnh: V.K.K

Đi qua bao thăng trầm, bánh phồng Sơn Đốc vẫn giữ được thứ “hồn” riêng của miền Tây: mộc mạc mà tinh tế, giản dị nhưng sâu sắc.

Tiếng chày giã bánh trong đêm, mùi nếp dừa thơm lan theo gió, hình ảnh sân nhà phơi bánh dưới nắng… tất cả không chỉ là hoạt động sản xuất, mà còn là ký ức văn hóa, là “hơi thở” Tết của xứ dừa.

Văn Kim Khanh

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/banh-phong-son-doc-nuc-tieng-xu-dua-giu-nghe-tram-nam-246499.html