Báo cáo 301 - Phần 2: Giải pháp nào cho Việt Nam?

Xu hướng lệ thuộc vào thị trường Mỹ là khó tránh khỏi và có thể đẩy Việt Nam vào thế khó trong thương lượng song phương. Tìm kiếm thị trường mới song song với tăng cường các thị trường hiện có như EU, Trung Quốc, ASEAN… nên là hướng đi ưu tiên hàng đầu.

Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tại cảng Tân Vũ (Hải Phòng). Ảnh minh họa: Giang Huy

Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tại cảng Tân Vũ (Hải Phòng). Ảnh minh họa: Giang Huy

Một điều đáng lưu ý thể hiện trong bức tranh xuất siêu sang thị trường Mỹ của Việt Nam là tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao và thiết bị điện tử chiếm ưu thế, kế đến là dệt may, giày da và túi sách. Tuy nhiên, ngành công nghiệp này vốn dĩ chủ yếu do các công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam nắm giữ.

Không giống như Trung Quốc thường bị cáo buộc là có dư thừa năng lực sản xuất (overcapacity) bởi chính các công ty nội địa mạnh, các công ty Việt Nam chỉ nắm giữ tỷ lệ không đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu (khoảng một phần năm) trong khi các công ty nước ngoài, chủ yếu đến từ chính Mỹ và Hàn Quốc, chiếm đến 80% còn lại (*).

Điều này gợi ý rằng mặc dù Việt Nam vẫn hưởng được lợi từ việc xuất siêu nhưng khoản lợi không lớn như Trung Quốc bởi lẽ người hưởng lợi lớn nhất vẫn là các công ty đa quốc gia nước ngoài đang thống trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Ngược lại, cái giá phải trả có thể sẽ rất đắt một khi Mỹ thực hiện các biện pháp trả đũa thông qua các vũ khí pháp lý như Báo cáo 301 Đặc biệt. Việc buộc phải thắt chặt bảo hộ SHTT với ngưỡng cao vượt quá mức độ chịu đựng của một nền kinh tế chỉ đang phát triển như Việt Nam thường sẽ gây ra áp lực rất lớn cho người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, để bảo vệ lợi ích của các công Mỹ tại Việt Nam cũng như không làm gián đoạn nguồn cung hàng cho thị trường Mỹ, chính quyền Mỹ có thể không áp đặt mức thuế nhập khẩu bổ sung quá cao cho các mặt hàng do các công ty này sản xuất tại Việt Nam mà chọn một cách khác: gây sức ép để Việt Nam mở rộng cửa hơn cho hàng hóa Mỹ, tăng cường thâm nhập sâu hơn vào thị trường Việt Nam nhằm cân bằng cán cân thương mại.

Những mặt hàng này có thể vốn dĩ Việt Nam không có nhu cầu, có thể sản xuất được hoặc có thể nhập từ những nguồn khác với giá cả phải chăng hơn. Viễn cảnh buộc phải mua ồ ạt hàng từ phía Mỹ có thể gây áp lực lớn lên nền kinh tế quốc gia.

Đã đến lúc chúng ta cần xem xét thấu đáo định hướng cho chính sách nền kinh tế vĩ mô. Bức tranh kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam phản ánh cấu trúc thị trường gia công khi các doanh nghiệp FDI thống trị kim ngạch xuất khẩu trong khi doanh nghiệp nội địa lại nhập siêu từ nước ngoài, chủ yếu là các mặt hàng máy móc, linh kiện điện tử, nguyên vật liệu sản xuất.

Do đó, các chính sách tăng cường nội lực của các doanh nghiệp trong nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế, giảm thiểu sự phụ thuộc vào doanh nghiệp FDI về thặng dư thương mại.

Bên cạnh đó, yêu cầu đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu giờ đây trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ hiện nay chiếm hơn 32% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Do đó, xu hướng lệ thuộc vào thị trường Mỹ là khó tránh khỏi. Điều này có thể đẩy Việt Nam vào thế khó trong bất cứ các cuộc thương lượng thương mại song phương nào. Tìm kiếm thị trường mới song song với tăng cường các thị trường hiện có như EU, Trung Quốc, ASEAN… nên là hướng đi ưu tiên hàng đầu.

(*) Trường Đại học Kinh tế - Luật ĐHQG TPHCM

(*) James Borton, U.S.-Vietnam trade talks risk strategic misstep in Indo-Pacific balance, UPI, 7/5/2026, https://www.upi.com/amp/Top_News/World-News/2026/05/07/vietnam-trade-talks/9071777997881/

Lâm Nghi (*)

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/bao-cao-301-phan-2-giai-phap-nao-cho-viet-nam/