Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026: Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ bình đẳng giới?

Ngày 16/9/2026, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026. Việt Nam xếp thứ 84/145 nền kinh tế, với 70,7% khoảng cách giới đã được thu hẹp.

 Hình minh họa

Hình minh họa

So với năm 2025, Việt Nam giảm 10 bậc và 0,6 điểm phần trăm; so với năm 2024, giảm 12 bậc và 0,8 điểm phần trăm. Mặc dù mức độ bình đẳng giới của Việt Nam hiện vẫn cao hơn khoảng 1,8 điểm phần trăm so với thời điểm lần đầu được đưa vào Chỉ số vào năm 2007, sự sụt giảm điểm số trong hai kỳ báo cáo gần đây cho thấy tiến trình thu hẹp khoảng cách giới có dấu hiệu mất đà. Điều này đặt ra những vấn đề đáng lưu ý khi xem xét vị trí của Việt Nam trong tương quan với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

Khoảng cách giới đã thu hẹp trong 20 năm, nhưng thế giới vẫn cần 120 năm để đạt bình đẳng giới

Ảnh bìa Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026. Nguồn: World Economic Forum (WEF).

Ảnh bìa Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026. Nguồn: World Economic Forum (WEF).

Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap Report) được WEF công bố lần đầu năm 2006 và đến năm 2026 đã bước sang ấn bản thứ 20. Báo cáo theo dõi mức độ thu hẹp khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trên bốn lĩnh vực: Tham gia và Cơ hội kinh tế, Trình độ Giáo dục, Sức khỏe và Sự sống còn, Quyền năng Chính trị. Chỉ số không đo mức độ phát triển tuyệt đối của một quốc gia mà đo khoảng cách tương đối giữa nữ và nam, với 100% tương ứng với đạt bình đẳng giới. Năm 2026, báo cáo đánh giá 145 nền kinh tế, đồng thời phân tích một nhóm cố định 97 nền kinh tế có dữ liệu xuyên suốt từ năm 2006, qua đó cung cấp một cơ sở theo dõi dài hạn về tiến trình thu hẹp khoảng cách giới trên thế giới.

Theo Báo cáo năm 2026, xét trên 145 nền kinh tế được đánh giá, thế giới đã thu hẹp được 69,2% khoảng cách giới. Đối với nhóm 97 nền kinh tế được WEF theo dõi liên tục trong 20 kỳ báo cáo, mức độ bình đẳng giới đã tăng 5,2 điểm phần trăm, từ 64,2% năm 2006 lên 69,4% năm 2026. Tuy nhiên, nếu tiếp tục duy trì tốc độ cải thiện của 20 năm qua, WEF ước tính thế giới vẫn cần khoảng 120 năm nữa để đạt được bình đẳng giới.

Đáng chú ý, quyền năng chính trị tiếp tục là lĩnh vực có khoảng cách giới lớn nhất, khi thế giới mới thu hẹp được 22,1% khoảng cách giới trong lĩnh vực này. Đây cũng là lĩnh vực có sự chênh lệch lớn nhất giữa các nền kinh tế: điểm số dao động từ chỉ 0,6% tại Vanuatu đến 95,4% tại Iceland. Iceland là nền kinh tế duy nhất thu hẹp được trên 90% khoảng cách giới về quyền năng chính trị, trong khi khoảng 90% số nền kinh tế được đánh giá vẫn có mức điểm dưới 50%.

Xếp hạng của Việt Nam giảm trong hai năm qua: Một tín hiệu đáng suy ngẫm

Việc Việt Nam giảm thứ hạng trong hai năm gần đây không chỉ phản ánh sự cải thiện nhanh hơn của một số nền kinh tế khác, mà còn đi cùng với sự sụt giảm về chính điểm số bình đẳng giới của Việt Nam trong hai năm qua. Nhìn dài hạn hơn, kể từ năm 2007 - thời điểm Việt Nam lần đầu được đưa vào Chỉ số - mức độ thu hẹp khoảng cách giới chỉ tăng khoảng 1,8 điểm phần trăm, thấp hơn nhiều mức tăng của nhóm 97 nền kinh tế được WEF theo dõi liên tục (5,2%). Dù hai khoảng thời gian không hoàn toàn trùng nhau, sự khác biệt này cho thấy mức cải thiện dài hạn của Việt Nam còn tương đối khiêm tốn so với xu hướng chung của nhóm nền kinh tế được theo dõi ổn định.

Trong 5 năm gần đây, Việt Nam luôn duy trì mức thu hẹp khoảng cách giới cao hơn bình quân Đông Á – Thái Bình Dương và thế giới. Tuy nhiên, lợi thế này đang dần thu hẹp. Sau khi tăng từ 70,5% năm 2022 lên mức cao nhất 71,5% năm 2024, điểm số của Việt Nam giảm còn 70,7% năm 2026. Ngược lại, điểm bình quân Đông Á – Thái Bình Dương tăng từ 69,0% lên 70,3%, còn mức bình quân toàn cầu tăng từ 68,1% lên 69,2%. Riêng trong hai năm 2024 - 2026, khoảng cách giữa Việt Nam và bình quân khu vực đã thu hẹp mạnh từ khoảng 2,3 xuống còn 0,4 điểm phần trăm. Điều này cho thấy thách thức hiện nay không chỉ là duy trì mức độ bình đẳng giới đã đạt được, mà còn phải tạo ra những tiến bộ đủ nhanh và bền vững để theo kịp xu hướng cải thiện của khu vực và thế giới.

Điều này càng đáng suy ngẫm trong bối cảnh Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về hoàn thiện pháp luật, giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và nâng cao vị thế của phụ nữ. Vấn đề đặt ra vì thế không chỉ là mức độ đầy đủ của khuôn khổ chính sách, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa chính sách thành những thay đổi thực chất về cơ hội, nguồn lực, sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ.

Sự tham gia và Cơ hội kinh tế tiếp tục là trụ cột mạnh nhất của Việt Nam

Sự tham gia và cơ hội kinh tế tiếp tục là trụ cột có kết quả tốt nhất của Việt Nam. Theo Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026, Việt Nam xếp thứ 35 thế giới ở trụ cột này, với 75,2% khoảng cách giới đã được thu hẹp. So với kỳ báo cáo trước, điểm số giảm nhẹ 0,7 điểm phần trăm nhưng vẫn cao hơn mức 74,5% của năm 2007. WEF cũng xác định đây là trụ cột có kết quả tốt nhất của Việt Nam.

Một số kết quả đáng chú ý là Việt Nam duy trì cân bằng giới hoàn toàn ở nhóm lao động chuyên môn và kỹ thuật kể từ khi được đưa vào Chỉ số; mức cân bằng giới trong tham gia lực lượng lao động đạt 88,3%; còn ở nhóm nhà lập pháp, cán bộ cấp cao và quản lý, điểm cân bằng giới tăng từ 28,5% năm 2007 lên 40,1% năm 2026. Tuy nhiên, WEF cũng lưu ý rằng mức cân bằng giới trong tham gia lực lượng lao động đã giảm 5,6 điểm phần trăm so với năm 2007.

Trình độ Giáo dục đạt điểm số rất cao, 97,1%, nhưng Việt Nam chỉ xếp 108/145 nền kinh tế do phần lớn các nền kinh tế đã tiến khá gần tới bình đẳng giới. Điều này có nghĩa là điểm tuyệt đối của Việt Nam cao nhưng không tạo lợi thế cạnh tranh lớn so với các nền kinh tế khác. Báo cáo năm 2026 chỉ ra rằng Việt Nam đạt được những bước tiến dần dần kể từ năm 2007, nhờ vào sự cải thiện tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành (tăng 5,2 điểm phần trăm về cân bằng giới) và việc đạt được sự bình đẳng hoàn toàn về tỷ lệ nhập học bậc đại học vào năm 2012. Tuy nhiên, báo cáo cũng lưu ý việc thiếu dữ liệu về giáo dục tiểu học và trung học trong thập kỷ đầu Việt Nam tham gia Chỉ số khiến việc đánh giá xu hướng dài hạn ở lĩnh vực này gặp khó khăn.

Số liệu trong Báo cáo 2026 cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể về lĩnh vực đào tạo giữa nữ và nam. Trong tổng số nữ tốt nghiệp giáo dục đại học của Việt Nam, 15,38% tốt nghiệp các ngành STEM; trong khi ở nhóm nam tốt nghiệp đại học, tỷ lệ này là 31,19%. Như vậy, tỷ trọng người tốt nghiệp STEM trong nhóm nữ chỉ bằng khoảng một nửa so với nhóm nam. Đáng chú ý, trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tỷ lệ này đặc biệt thấp, chỉ đạt 1,01% ở nữ, so với 3,28% ở nam. Xét riêng trong nhóm nữ tốt nghiệp đại học, tỷ lệ tốt nghiệp ICT của Việt Nam cũng thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (2,91%) và Singapore (5,93%). Những chênh lệch này đặt ra nguy cơ khoảng cách giới tiếp tục kéo dài từ giáo dục sang cơ hội tham gia các ngành nghề công nghệ trong tương lai, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế AI đang phát triển nhanh. Ở phạm vi toàn cầu, WEF chỉ ra rằng phụ nữ vẫn hiện diện thấp trong toàn bộ chuỗi giá trị AI; họ chiếm gần một nửa số người làm công việc gán nhãn dữ liệu nhưng chỉ khoảng một phần năm số lượng kỹ sư phát triển và triển khai.

Chỉ số Sức khỏe và Sự sống còn của Việt Nam hầu như ít biến động, đạt 95,2% trong năm 2026, tăng nhẹ so với 94,9% năm 2025. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm cuối bảng toàn cầu, xếp thứ 143/145 nền kinh tế. Sự đối lập thể hiện khá rõ giữa hai cấu phần của chỉ số này: Việt Nam xếp thứ nhất về mức độ cân bằng giới trong tuổi thọ khỏe mạnh, nhưng chỉ xếp thứ 144 về tỷ số giới tính khi sinh. Điều này cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là một thách thức lớn đối với kết quả bình đẳng giới trong lĩnh vực sức khỏe của Việt Nam.

Quyền năng Chính trị tiếp tục là chỉ số thành phần có kết quả thấp nhất của Việt Nam, với 15,3% khoảng cách giới đã được thu hẹp. Điểm số này đã giảm 2,1 điểm phần trăm so với năm ngoái, khiến Việt Nam đứng ngay ngoài nhóm 100 nền kinh tế hàng đầu thế giới. Mức cân bằng giới trong đại diện tại Quốc hội giảm xuống còn 42,9%, thấp hơn mức cao nhất Việt Nam từng đạt được là 45,7%. Tỷ lệ cân bằng giới ở cấp bộ trưởng cũng giảm, từ 12,5% vào năm 2025 xuống còn 7,7% vào năm 2026. Chỉ số về người đứng đầu nhà nước vẫn ở mức gần bằng không, phản ánh việc phụ nữ đảm nhiệm vị trí này còn rất hạn chế.

Có thể tóm tắt kết quả cả 4 chỉ số trong năm 2026 của Việt Nam trong bảng dưới đây:

Có thể nói, Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026 cho thấy một bức tranh đan xen về bình đẳng giới ở Việt Nam. Một mặt, Việt Nam duy trì mức tham gia lực lượng lao động tương đối cao của phụ nữ, khoảng cách giới trong giáo dục đã được thu hẹp đáng kể, đạt cân bằng giới ở nhóm lao động chuyên môn và kỹ thuật, đồng thời có tiến bộ trong sự hiện diện của phụ nữ ở nhóm nhà lập pháp, cán bộ cấp cao và quản lý. Mặt khác, tốc độ cải thiện chung còn tương đối chậm so với xu hướng của khu vực và thế giới; khoảng cách giới trong lãnh đạo và tham gia chính trị vẫn lớn; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục là một thách thức; trong khi sự hiện diện còn hạn chế của phụ nữ trong các lĩnh vực công nghệ như ICT đặt ra nguy cơ hình thành những bất bình đẳng mới trong bối cảnh AI và kinh tế số phát triển nhanh.

Những kết quả này cho thấy yêu cầu thúc đẩy bình đẳng giới trong giai đoạn tới cần đi xa hơn việc bảo đảm sự có mặt của phụ nữ, hướng tới sự tham gia thực chất; không chỉ đếm số lượng phụ nữ mà cần xem xét họ đang ở những vị trí nào, được tiếp cận những cơ hội và nguồn lực nào, và có tiếng nói đến đâu trong quá trình ra quyết định. Tương tự, trọng tâm cũng cần chuyển từ việc hoàn thiện khuôn khổ chính sách, pháp luật sang bảo đảm các quy định đó được thực thi hiệu quả và thực sự tạo ra những thay đổi về cơ hội, vị thế và quyền lựa chọn của phụ nữ và nam giới trong đời sống.

Nguyễn Thị Minh Hương - Phạm Thị Thanh Dung

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/bao-cao-khoang-cach-gioi-toan-cau-2026-viet-nam-dang-o-dau-tren-ban-do-binh-dang-gioi-238260921085628316.htm