Bảo đảm an ninh năng lượng: Đất nước Mặt trời mọc và nửa thế kỷ 'biến nguy thành cơ'

Hình ảnh 'Mặt trời mọc' kiên cường vươn lên sau giông bão cũng chính là cách Nhật Bản vượt qua những thử thách khắc nghiệt về an ninh năng lượng

Mùa thu năm 1973, khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất quét qua thế giới, hiếm nền kinh tế phát triển nào hứng chịu cú đòn nặng nề hơn Nhật Bản - quốc gia khi đó phụ thuộc vào dầu nhập khẩu nhiều hơn bất kỳ cường quốc công nghiệp nào. Năm 1974, lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm. Nhưng cũng chính từ cú sốc đó, an ninh năng lượng đã được khắc vào “mã gen” của quốc gia này. Gần như không có dầu, không có khí, không có tài nguyên hóa thạch, Nhật Bản vẫn vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới bằng trí tuệ, kỷ luật và một tinh thần đổi mới không ngừng nghỉ.

Mùa thu năm 1973, khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất quét qua thế giới, hiếm nền kinh tế phát triển nào hứng chịu cú đòn nặng nề hơn Nhật Bản - quốc gia khi đó phụ thuộc vào dầu nhập khẩu nhiều hơn bất kỳ cường quốc công nghiệp nào. Năm 1974, lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến II, nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm. Nhưng cũng chính từ cú sốc đó, an ninh năng lượng đã được khắc vào “mã gen” của quốc gia này. Gần như không có dầu, không có khí, không có tài nguyên hóa thạch, Nhật Bản vẫn vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới bằng trí tuệ, kỷ luật và một tinh thần đổi mới không ngừng nghỉ.

Hơn 50 năm sau, Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ tương tự. Bước vào giai đoạn tăng trưởng cao với khát vọng mở rộng kinh tế hai con số, nhu cầu năng lượng của Việt Nam được dự báo sẽ tăng vọt và không thể để bị đứt gãy. Đầu năm 2026, khi những bất ổn tại Trung Đông một lần nữa phủ bóng lên các tuyến cung ứng dầu khí toàn cầu, bài toán an ninh năng lượng lại trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, Nhật Bản đang đặt Việt Nam vào vị trí trung tâm của chiến lược xanh khu vực, với trọng tâm là Sáng kiến Cộng đồng Phát thải ròng bằng 0 châu Á (AZEC).

Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki, người đã có hơn hai năm gắn bó với Hà Nội, mở đầu câu chuyện với chúng tôi bằng những ấn tượng rất đời thường: “Tôi nghĩ bất kỳ người nước ngoài nào cũng đều ngạc nhiên trước nhịp sống rất nhanh tại đây, cũng như số lượng xe máy vô cùng lớn trên đường phố. Hà Nội là một trong những thủ đô năng động nhất, với nền kinh tế rất phát triển. Đó có lẽ là điều ấn tượng nhất khi sống và làm việc tại đây.

Để hiểu vì sao Nhật Bản có thể trở thành bạn đồng hành đáng tin cậy của Việt Nam trên hành trình chuyển dịch năng lượng, cần nhìn lại chặng đường mà chính họ đã đi qua. Cú sốc dầu mỏ năm 1973, bùng phát từ cuộc xung đột tại Trung Đông, đã đẩy giá nhiên liệu tăng phi mã và kéo theo lạm phát trên diện rộng, khiến Nhật Bản ghi nhận năm tăng trưởng GDP âm đầu tiên thời hậu chiến vào năm 1974. Từ đây, Tokyo định hình một chiến lược ba mũi nhọn còn nguyên giá trị đến hôm nay: bảo đảm nguồn cung dầu ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và đa dạng hóa để giảm lệ thuộc vào dầu mỏ.

Quyết tâm ấy nhanh chóng được cụ thể hóa bằng những chương trình nghiên cứu quy mô lớn. Năm 1974, Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI) khởi động “Dự án Ánh dương” (Sunshine Project) nhằm phát triển các nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ như Mặt trời, địa nhiệt và hydro; bốn năm sau, “Dự án Ánh trăng” (Moonlight Project) năm 1978 bổ sung trọng tâm về công nghệ tiết kiệm năng lượng.

Luật Bảo tồn Năng lượng ra đời năm 1979 cùng việc Tổ chức Phát triển Công nghệ Công nghiệp và Năng lượng Mới (NEDO) được thành lập năm 1980 là những thiết chế đặt nền móng cho nửa thế kỷ đổi mới. Đến năm 1993, hai dự án được hợp nhất thành “Chương trình Ánh dương Mới”, tiếp tục theo đuổi giấc mơ về một nền năng lượng tự chủ.

Thành quả của tầm nhìn dài hạn ấy là vị thế tiên phong toàn cầu. Từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000, Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới cả về lắp đặt lẫn sản xuất pin Mặt trời, với những tên tuổi như Sharp, Kyocera và Sanyo; đến năm 2000, các doanh nghiệp Nhật Bản chiếm khoảng 50% thị phần sản xuất tấm quang điện toàn cầu. Song song, các tiêu chuẩn hiệu suất khắt khe theo chương trình “Top Runner” đã đưa Nhật Bản trở thành một trong những nền kinh tế sử dụng năng lượng hiệu quả nhất hành tinh - mỗi đơn vị GDP được tạo ra với lượng năng lượng tiêu hao thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Nhưng lịch sử năng lượng Nhật Bản không chỉ có ánh sáng. Tháng 3/2011, trận đại địa chấn và sóng thần ở miền Đông Bắc đã gây ra thảm họa hạt nhân Fukushima - một bước ngoặt đầy đau xót. Đại sứ Ito Naoki nhớ lại: “Khi đó, Nhật Bản có 54 lò phản ứng hạt nhân đang vận hành và tất cả đều phải dừng hoạt động. Trước sự cố Fukushima, khoảng 30% điện năng của Nhật Bản đến từ điện hạt nhân. Sau thảm họa, chúng tôi đã tiến hành rà soát toàn diện và thành lập Cơ quan Quản lý Hạt nhân mới với các tiêu chuẩn an toàn rất nghiêm ngặt. Đến nay mới chỉ có 15 lò phản ứng được phép hoạt động trở lại, trong khi 24 lò đã được quyết định ngừng vận hành vĩnh viễn”.

Cú sốc kép - mất gần 1/3 sản lượng điện và buộc phải tăng mạnh nhập khẩu khí hóa lỏng - một lần nữa nhắc nhở Nhật Bản về cái giá của sự phụ thuộc. Câu trả lời là một chiến lược thực dụng, không đặt cược vào bất kỳ giải pháp đơn lẻ nào. Ngày 18/2/2025, nội các Nhật Bản thông qua Kế hoạch Năng lượng chiến lược lần thứ 7, đặt mục tiêu đến năm 2040 nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 40-50% và điện hạt nhân lên khoảng 20% (so với mức 8,5% năm 2023), trong khi nhiệt điện giảm còn 30-40%. Đáng chú ý, văn kiện này đánh dấu bước chuyển từ chủ trương “giảm tối đa phụ thuộc hạt nhân” sang “tận dụng tối đa” điện hạt nhân, với định hướng tương lai là công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR).

Trong bức tranh đa dạng đó, hydro là quân bài chiến lược mà Nhật Bản đặt cược từ rất sớm. Tháng 12/2017, Nhật Bản trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành chiến lược quốc gia về hydro mang tên Chiến lược Hydro Cơ bản, đặt mục tiêu đưa nguồn cung hydro lên 3 triệu tấn vào năm 2030 và 20 triệu tấn vào năm 2050. Đến nay, Nhật Bản nắm giữ khoảng 24% số bằng sáng chế liên quan đến hydro trên toàn cầu và là nơi hạ thủy con tàu chở hydro hóa lỏng đầu tiên của thế giới. Chính tư duy “biến nguy thành cơ” và triết lý “Mottainai” - trân trọng và tận dụng tối đa mọi nguồn lực - đã hun đúc nên ba trụ cột mà Nhật Bản theo đuổi trong Sáng kiến AZEC: khử carbon, tăng trưởng kinh tế và an ninh năng lượng.

Câu chuyện đồng hành giữa hai nước có gốc rễ sâu xa. Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973. Trải qua nhiều nấc thang như đối tác tin cậy năm 2002, đối tác chiến lược năm 2014, mối quan hệ song phương đạt đỉnh cao mới vào tháng 11/2023, đúng dịp kỷ niệm 50 năm, khi hai nước nâng cấp lên “Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới”.

Dấu ấn cụ thể nhất của Nhật Bản trong đời sống thường nhật của người Việt Nam chính là hạ tầng. Kể từ khi nối lại ODA năm 1992, Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, với tổng vốn vay lũy kế khoảng 27,5 tỷ USD tính đến tài khóa 2020, tập trung vào giao thông, năng lượng và hạ tầng đô thị. Đó là cầu Nhật Tân bắc qua sông Hồng - “cây cầu hữu nghị Việt - Nhật” nối trung tâm Hà Nội với sân bay Nội Bài; là tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên dài 19,7 km tại TP. Hồ Chí Minh vận hành vào tháng 12/2024 với 88% vốn vay từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Nguồn lực bền bỉ ấy đã góp phần giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trung bình khoảng 6,4% trong suốt 40 năm.

Giờ đây, dòng vốn Nhật Bản đang dịch chuyển mạnh sang mặt trận năng lượng sạch. Khi nói về AZEC, Đại sứ Ito Naoki nhấn mạnh vai trò đặc biệt của Việt Nam: “Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất có danh sách 15 dự án thí điểm trong khuôn khổ sáng kiến này, với tổng vốn đầu tư khoảng 20 tỷ USD. Các dự án trải rộng trên nhiều lĩnh vực như điện khí LNG, điện gió, điện mặt trời và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.”

Quyết tâm chính trị từ cấp cao nhất đang tạo động lực cho dòng vốn này. AZEC, do Nhật Bản khởi xướng từ tháng 3/2023 với 11 quốc gia thành viên, đã bước sang một giai đoạn mới. Ngày 15/4/2026, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae chủ trì Hội nghị Thượng đỉnh trực tuyến “AZEC Plus” về an ninh năng lượng, đồng thời công bố sáng kiến Đối tác về Khả năng chống chịu Năng lượng và Tài nguyên (POWERR Asia) với gói hợp tác tài chính khoảng 10 tỷ USD. Tại hội nghị, Thủ tướng Việt Nam Lê Minh Hưng đã tái khẳng định cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và nhấn mạnh 3 ưu tiên: bảo đảm nguồn cung dầu thô trong ngắn hạn, tăng cường dự trữ dầu trước những bất ổn ở Trung Đông và thúc đẩy các dự án AZEC.

Chỉ vài tuần sau, từ ngày 1-3/5, Thủ tướng Takaichi thực hiện chuyến thăm Việt Nam, hiện thực hóa những cam kết ấy. Hai bên thống nhất làm sâu sắc Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực ưu tiên mới gồm năng lượng, khoáng sản thiết yếu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và vũ trụ. Dự án đầu tiên của POWERR Asia là hỗ trợ thu xếp nguồn dầu thô cho Tổ hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Hai nước cũng đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 60 tỷ USD vào năm 2030 và tăng đầu tư của Nhật Bản thêm khoảng 5 tỷ USD mỗi năm.

Nếu Nhật Bản có công nghệ và vốn, thì Việt Nam lại sở hữu thứ mà Nhật Bản thiếu: tiềm năng thiên nhiên khổng lồ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới và các nghiên cứu sau đó của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam vào khoảng 475-600 GW - thuộc hàng lớn nhất Đông Nam Á. Cùng với khoảng 17 GW điện mặt trời đã lắp đặt - cao nhất khu vực và số ngày nắng dồi dào, Việt Nam đang nắm trong tay khối “vàng xanh” mà nhiều quốc gia phải ao ước. Nhưng để biến gió và nắng thành dòng điện trên lưới, cần sự hội tụ của vốn và công nghệ - và đây chính là nơi tinh thần “Mottainai” của Nhật Bản (triết lý thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với tài nguyên và mong muốn tận dụng để món quà quý giá từ thiên nhiên không bị lãng phí) đã gặp gỡ khát vọng của Việt Nam.

Lễ ký Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Marubeni Corporation (Nhật Bản) và Doosan Enerbility Vietnam về hợp tác phát triển điện gió ngoài khơi tại Quảng Ngãi, Việt Nam ngày 29/6/2024. (Nguồn: Doosan Vina)

Lễ ký Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Marubeni Corporation (Nhật Bản) và Doosan Enerbility Vietnam về hợp tác phát triển điện gió ngoài khơi tại Quảng Ngãi, Việt Nam ngày 29/6/2024. (Nguồn: Doosan Vina)

Sự hội tụ ấy đang được cụ thể hóa. Theo Đại sứ Ito Naoki, một đoàn công tác gồm đại diện Chính phủ và doanh nghiệp Nhật Bản đã tới Việt Nam khảo sát cơ hội đầu tư điện gió ngoài khơi, với bước đi đầu tiên là phát triển nguồn nhân lực: “Trước hết, chúng tôi mong muốn mời các cán bộ và sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản tìm hiểu sâu hơn về công nghệ điện gió ngoài khơi tiên tiến. Bước tiếp theo sẽ là nghiên cứu, khảo sát và tiến tới đầu tư thực tế”.

Ở lĩnh vực hydro xanh, kinh nghiệm Nhật Bản đã vượt khỏi phòng thí nghiệm. Tỉnh Yamanashi trở thành trung tâm nghiên cứu hàng đầu, đến mức ở Nhật Bản có câu “nói đến hydro là nói đến Yamanashi”. Tại đây, tập đoàn Suntory đã đưa vào vận hành hệ thống điện phân Power-to-Gas công suất 16 MW lớn nhất Nhật Bản, sản xuất hydro xanh từ điện tái tạo để cấp nhiệt cho nhà máy nước và nhà máy chưng cất, với năng lực khoảng 2.200 tấn hydro mỗi năm, giúp cắt giảm 16.000 tấn CO2. Giới chức Yamanashi đã sang Việt Nam gặp gỡ lãnh đạo Hà Nội và nhiều địa phương, mang theo kỳ vọng sớm triển khai các mô hình tương tự tại Hà Nội và Tây Ninh. Đại sứ cho biết vào tháng 10, Yamanashi sẽ đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Hydro xanh - một cánh cửa để Việt Nam tiếp cận công nghệ.

Một hướng đi thực dụng khác là công nghệ đốt kèm amoniac. Tập đoàn IHI của Nhật Bản đã phát triển công nghệ cho phép đốt kèm tới 20% amoniac cùng than trong các nhà máy nhiệt điện - giải pháp giúp cắt giảm phát thải ngay trên hạ tầng hiện hữu trong giai đoạn chuyển tiếp, thay vì phải đóng cửa toàn bộ nhà máy. Cách tiếp cận “không bỏ phí” này phản ánh đúng triết lý đa dạng hóa mà Nhật Bản đã đúc kết qua nửa thế kỷ.

Đại sứ Ito Naoki nhiều lần nhấn mạnh rằng, song song với việc bảo đảm chuyển đổi ổn định qua các dự án LNG có thể triển khai nhanh, hai nước cần xây dựng kế hoạch hợp tác dài hạn cho điện gió ngoài khơi - lĩnh vực mà ông tin rằng tiến bộ công nghệ trong khoảng 10 năm tới sẽ mở ra dư địa rất lớn. Việt Nam, về phần mình, đang đẩy mạnh hoàn thiện hành lang pháp lý cho LNG và điện gió ngoài khơi - nỗ lực được kỳ vọng sẽ khơi thông dòng vốn tư nhân vốn cần nhiều năm để xây dựng và nhiều thập kỷ để thu hồi.

Suy cho cùng, vượt lên trên những con số vốn hàng chục tỷ USD hay công nghệ tối tân, nền tảng cốt lõi của toàn bộ quá trình hợp tác này nằm ở một khái niệm nhân văn: sự đồng hành. Đó cũng là từ khóa mà Đại sứ Ito Naoki chọn để khép lại cuộc trò chuyện.

Trong chuyến thăm tháng 5/2026, Thủ tướng Takaichi đã tái khẳng định tầm nhìn về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở - sáng kiến được cố Thủ tướng Abe Shinzo đề xuất khoảng một thập kỷ trước, dựa trên các giá trị tự do, cởi mở, thượng tôn pháp luật, cùng hai trụ cột ngày càng quan trọng là khả năng chống chịu và tính tự chủ. Trong tầm nhìn đó, Việt Nam và Nhật Bản tìm thấy ở nhau sự bổ trợ gần như hoàn hảo: Việt Nam có quỹ đất và nguồn nhân lực dồi dào, còn Nhật Bản mang đến công nghệ lõi và chuẩn mực vận hành. Đó là một sự kết hợp hướng tới mục tiêu cùng thắng.

Đồng hành cũng có nghĩa là cùng nhau vượt qua thử thách. Những lo ngại về nhịp độ đầu tư chững lại, hay bài toán thu hồi vốn cho các dự án LNG, cho thấy con đường phía trước không bằng phẳng. Nhưng chính ở những điểm nghẽn ấy, tinh thần “biến nguy thành cơ” của Nhật Bản và quyết tâm cải cách của Việt Nam có thể gặp nhau. Để khẳng định tình cảm sắt son giữa hai quốc gia, hai dân tộc, Đại sứ Ito Naoki đã mượn hai câu thơ của Đại thi hào Nguyễn Du:

“Hai bên ý hợp tâm đầu,

Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân”.

Hình ảnh 'Mặt trời mọc' kiên cường vươn lên sau giông bão cũng chính là cách Nhật Bản vượt qua những thử thách khắc nghiệt về an ninh năng lượng. Với Việt Nam, công cuộc chuyển dịch năng lượng hướng tới tương lai trước hết đòi hỏi nội lực vững vàng và một mạng lưới hợp tác đa phương sâu rộng. Trong bức tranh chung ấy, Nhật Bản tiếp tục khẳng định vị trí của một đối tác quan trọng. Đồng hành cùng một quốc gia giàu kinh nghiệm thực tiễn về an ninh năng lượng, dựa trên nền tảng quan hệ ngoại giao gắn bó và đi vào chiều sâu, hành trình chuyển đổi của Việt Nam sẽ có thêm những sđiểm tựa vững chắc để đưa các cam kết vĩ mô vào thực tiễn.

Thực hiện: Mai Anh Thư | Thiết kế: Thùy Dung

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/bao-dam-an-ninh-nang-luong-dat-nuoc-mat-troi-moc-va-nua-the-ky-bien-nguy-thanh-co-423909.html