Bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật về đặt cọc trong thực tiễn
Sáng 26/6, Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước Lê Vệ Quốc chủ trì cuộc họp trao đổi một số nội dung liên quan tại dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về đặt cọc.
Tham dự cuộc họp có Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Tòa án nhân dân tối cao; Vụ Pháp chế, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đại diện một số tổ chức tín dụng và các chuyên gia đến từ Đại học Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội.
Phát biểu tại buổi làm việc, Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước Lê Vệ Quốc cho biết qua quá trình kiểm tra, nghiên cứu và tiếp thu ý kiến của các đơn vị trong thời gian vừa qua, cũng như trên cơ sở những kết quả đã đạt được, có thể thấy Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình (trong đó có hướng dẫn về đặt cọc) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật. Trong bối cảnh hiện nay, việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về đặt cọc là cần thiết nhằm bảo đảm việc thực hiện thống nhất các quy định của pháp luật hiện hành.
Do đó, buổi làm việc tổ chức nhằm trao đổi, thảo luận để xem xét, làm rõ các nội dung của dự thảo Nghị quyết, nhằm bảo đảm khi được ban hành, Nghị quyết thực sự có tính khả thi, không chỉ phục vụ việc áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử, xử lý các vụ việc, mà còn là tài liệu để các chuyên gia, cán bộ các Bộ, ngành, luật sư và những người làm công tác pháp luật tham khảo, vận dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình; đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy.
Tại cuộc họp, các đại biểu trao đổi các nội dung làm rõ trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm/hợp đồng được bảo đảm vô hiệu thì dẫn đến hệ quả gì đối với hợp đồng đặt cọc (vô hiệu/chấm dứt/không chấm dứt trong trường hợp các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm/hợp đồng được bảo đảm) để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với quy định của khoản 2 Điều 29 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, đảm bảo quyền của bên nhận đặt cọc.
Bên cạnh đó, trao đổi làm rõ hiệu lực của thỏa thuận đặt cọc trong: Trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm/hợp đồng được bảo đảm vi phạm điều cấm của luật và trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm/hợp đồng được bảo đảm vi phạm điều cấm của luật (như đặt cọc để mua bán nhà ở có sẵn nhưng hợp đồng mua bán nhà vi phạm điều cấm của Luật Nhà ở là chưa có Giấy chứng nhận)...












