Bất chấp thuế quan, thâm hụt thương mại của Mỹ cao nhất 1 năm rưỡi
Thâm hụt thương mại tháng 8 của Mỹ tăng mạnh hơn dự kiến do nhập khẩu đạt mức kỷ lục khi nhu cầu nội địa duy trì mạnh mẽ...

Ảnh minh họa - Ảnh: Bloomberg.
Sự gia tăng của thâm hụt thương mại đồng nghĩa rằng thương mại tiếp tục là yếu tố kìm hãm tăng trưởng kinh tế Mỹ trong quý 3.
Theo số liệu từ Cục Phân tích kinh tế (BEA) và Cục Thống kê dân số (Census Bureau) thuộc Bộ Thương mại Mỹ, thâm hụt thương mại tháng 8 của nước này tăng 13,7% lên mức 105,6 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3/2025. Trước đó, các nhà kinh tế được hãng tin Reuters khảo sát đã dự báo mức thâm hụt là 102 tỷ USD.
Sự gia tăng thâm hụt thương mại này diễn ra bất chấp các biện pháp thuế quan mạnh tay của Tổng thống Donald Trump. Khi ông Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai vào tháng 11/2024, thâm hụt thương mại của Mỹ là 79,8 tỷ USD.
Mục tiêu chính của ông Trump khi áp thuế quan là thu hẹp thâm hụt thương mại của Mỹ. Tuy nhiên, trong tháng 8, Mỹ đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại hàng hóa kỷ lục với ít nhất ba nền kinh tế. Đây là hệ quả của sự kết hợp giữa khối lượng hàng hóa nhập khẩu tăng và giá nhập khẩu cũng tăng.
Các nhà kinh tế từ lâu đã lập luận rằng Mỹ không có đủ năng lực sản xuất hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Sau khi số liệu thương mại mới nhất được công bố, một số chuyên gia đã hạ dự báo tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý 3 của Mỹ.
"Các chính sách thương mại của chính quyền phần lớn chưa mang lại kết quả như mong muốn. Thuế quan không hề giúp giảm bớt sự phụ thuộc của Mỹ vào hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Chi phí nhân công tại Mỹ quá cao, khiến việc sản xuất hàng hóa trong nước với mức giá đủ rẻ để người tiêu dùng cân nhắc mua sắm trở nên bất khả thi. Ngay cả khi các nhà sản xuất Mỹ sẵn sàng, tốc độ xây dựng nhà máy cũng không thể đủ nhanh để sản xuất các loại hàng hóa mà người tiêu dùng đang cần”, ông Christopher Rupkey, chuyên gia kinh tế trưởng tại công ty FWDBONDS, nhận định với hãng tin Reuters.
Nhu cầu nội địa của Mỹ đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn 3 năm rưỡi qua trong quý 2, phản ánh chi tiêu dùng người dân và đầu tư của doanh nghiệp cho thiết bị - chủ yếu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) - đều ở mức mạnh mẽ. Xu hướng này dường như vẫn tiếp diễn sang quý 3, với dữ liệu công bố trong tháng 9 cho thấy chi tiêu dùng mạnh mẽ trong tháng 8, cũng như sự gia tăng trong các đơn đặt hàng và lô hàng được giao trong lĩnh vực phi quốc phòng không bao gồm máy bay.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Mỹ vẫn đang phải dựa vào hàng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu. Nhập khẩu đã tăng 4,3% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm ngoái, đạt mức cao kỷ lục 420,8 tỷ USD trong tháng 8. Trong đó, nhập khẩu hàng hóa tăng 5,3% lên 342,2 tỷ USD, một phần do các doanh nghiệp bổ sung hàng tồn kho sau khi lượng hàng này đã bị sụt giảm trong suốt 5 quý liên tiếp.
Đà tăng trưởng nhập khẩu này được thúc đẩy bởi mức tăng 9,1 tỷ USD ở nhóm vật tư và nguyên liệu công nghiệp, bao gồm cả các sản phẩm dầu khí. Trong đó, nhập khẩu dầu thô tăng 3,3 tỷ USD.
Nhập khẩu hàng hóa tư liệu sản xuất tăng 6,2 tỷ USD, đạt mức kỷ lục 146,4 tỷ USD, chủ yếu do nhập khẩu linh kiện bán dẫn và các loại máy móc công nghiệp khác, phản ánh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng AI.
Số liệu thống kê mới cũng cho thấy xuất khẩu tháng 8 của Mỹ tăng 1,4% lên 315,2 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa tăng 2,2%, đạt 205,7 tỷ USD, phản ánh mức tăng 6,3 tỷ USD ở nhóm vật tư và nguyên liệu công nghiệp, gồm dầu thô và dầu nhiên liệu.

Thâm hụt thương mại hàng tháng của Mỹ. Đơn vị: tỷ USD - Nguồn: Reuters.
Các chuyên gia kinh tế tại Goldman Sachs nhận định rằng sự gia tăng trong xuất khẩu dầu của Mỹ dường như chủ yếu bắt nguồn từ việc giải phóng hàng tồn kho thương mại và sử dụng Dự trữ Dầu lửa Chiến lược (SPR), thay vì do sự gia tăng sản lượng dầu trong nước.
Thâm hụt thương mại hàng hóa tăng 10,3% lên 136,6 tỷ USD trong tháng 8. Sau khi điều chỉnh theo lạm phát, mức thâm hụt này đã nới rộng thêm 8,7 tỷ USD, tương đương tăng 8,2%, lên mức 114,7 tỷ USD.
Hoạt động thương mại đã làm giảm mức tăng trưởng GDP của Mỹ trong 3 quý liên tiếp, và các chuyên gia kinh tế ước tính yếu tố này có thể làm giảm tới 2,5 điểm phần trăm GDP trong quý 3.
Do vậy, Goldman Sachs đã hạ dự báo tăng trưởng GDP hàng năm quý 3/2026 của Mỹ xuống mức 3,1%, từ mức 3,4% trước đó. Nền kinh tế đã tăng trưởng ở mức 2,2% trong quý 2.
Bên cạnh việc kìm hãm tăng trưởng GDP, thâm hụt thương mại còn có tác động đến lạm phát do phản ánh tình trạng cầu vượt quá cung. Các chuyên gia kinh tế cho rằng điều này củng cố nhận định của họ về việc Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong năm nay.
“Fed cần đặc biệt lưu tâm đến yếu tố nhu cầu vượt nguồn cung này. Bên cạnh cú sốc giá cả bắt nguồn từ chi phí năng lượng tăng cao, nền kinh tế Mỹ còn đối mặt với thách thức lạm phát do nhu cầu tăng mạnh. Giá năng lượng chỉ là yếu tố cộng thêm vào bức tranh đó mà thôi”, ông Carl Weinberg, chuyên gia kinh tế trưởng tại công ty High Frequency Economics, nhận định với Reuters.
Trong tháng 8, kim ngạch nhập khẩu dịch vụ của Mỹ tăng chưa đầy 0,1 tỷ USD, đạt mức 78,5 tỷ USD, nhờ sự gia tăng nhẹ ở mảng vận tải. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cũng tăng chưa đầy 0,1 tỷ USD, lên mức 109,5 tỷ USD.
Mỹ đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại hàng hóa kỷ lục với Mexico, Việt Nam và Malaysia trong tháng 8. Quốc gia này cũng duy trì tình trạng thâm hụt thương mại với các đối tác khác như Đài Loan, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc và Ấn Độ.
Thâm hụt thương mại với Canada đã tăng vọt 4,1 tỷ USD. Sự gia tăng mạnh mẽ trong nhập khẩu của Mỹ từ Canada nhiều khả năng phản ánh việc các doanh nghiệp Mỹ đẩy mạnh đặt hàng sớm để tránh mức thuế quan cao hơn, trong bối cảnh Mỹ và Canada leo thang cuộc chiến thương mại.
Tuy nhiên, Mỹ lại đạt thặng dư thương mại hàng hóa kỷ lục với Bỉ, đồng thời duy trì thặng dư với Hà Lan, khu vực Nam và Trung Mỹ, Anh, Hồng Kông, Brazil, Australia và Saudi Arabia.
"Hoạt động thương mại với Canada có thể vẫn biến động trong vài tháng tới do những thay đổi lớn về giá trị hàng hóa năng lượng cũng như việc áp dụng các mức thuế quan mới trong bối cảnh bất ổn thương mại gia tăng”, bà Veronica Clark, chuyên gia kinh tế tại Citigroup, nhận định.

