Bệnh viện có được phép cấm người nhà bệnh nhân quay phim, chụp ảnh?

Bệnh viện có quyền cấm bệnh nhân và người nhà quay phim, chụp ảnh trong khuôn viên hay không?

Thời gian gần đây, vấn đề quay phim, chụp ảnh tại bệnh viện thu hút sự quan tâm khi người bệnh, người nhà và khách đến thăm có nhu cầu ghi lại diễn biến sự việc, phản ánh những vấn đề phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, hoạt động này cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quyền quản lý của bệnh viện, quyền đối với hình ảnh, bí mật đời tư và dữ liệu cá nhân của người bệnh, nhân viên y tế. 

Bệnh viện có quyền cấm quay phim, chụp ảnh trong khuôn viên hay không? Người dân tự ý ghi hình, đăng tải video lên mạng xã hội có thể đối mặt với những rủi ro pháp lý nào? 

Bệnh viện có quyền cấm bệnh nhân và người nhà quay phim, chụp ảnh trong khuôn viên hay không? (Ảnh minh họa - AI).

Bệnh viện có quyền cấm bệnh nhân và người nhà quay phim, chụp ảnh trong khuôn viên hay không? (Ảnh minh họa - AI).

Trao đổi với PV, thạc sĩ, luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho hay, bệnh viện có quyền hạn chế việc quay phim, chụp ảnh trong những trường hợp cần thiết, nhưng không có quyền mặc nhiên cấm tuyệt đối hoạt động này trên toàn bộ khuôn viên bệnh viện. 

Theo khoản 1 Điều 114 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có việc giới hạn ra vào cơ sở theo giờ và theo khu vực. Khoản 3 Điều này quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở trong việc quy định và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn. 

Đây là căn cứ để bệnh viện quản lý việc ra vào và tổ chức các biện pháp bảo đảm an toàn, nhưng Điều 114 không trực tiếp quy định một lệnh cấm quay phim, chụp ảnh áp dụng chung cho toàn bộ bệnh viện. Vì vậy, bệnh viện cần có căn cứ cụ thể khi áp dụng biện pháp hạn chế, không thể chỉ dựa vào quyền quản lý nội bộ để cấm đoán không giới hạn.

Bên cạnh đó, Điều 32 và Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền đối với hình ảnh và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong đó điều 32 quy định: Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình “Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.” 

Tại khoản 1 Điều 10 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 cũng bảo vệ quyền được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin riêng tư của người bệnh. Theo đó, bệnh viện có cơ sở để cấm hoặc hạn chế ghi hình tại phòng phẫu thuật, khu vực cấp cứu, buồng bệnh hoặc những nơi việc quay phim có thể làm lộ thông tin sức khỏe, hình ảnh nhạy cảm, thông tin bệnh án của người khác hoặc cản trở quá trình khám, chữa bệnh. 

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, cũng là căn cứ cần xem xét khi việc ghi hình dẫn đến thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc ghi hình xâm phạm quyền riêng tư của người khác với việc ghi nhận một sự việc diễn ra tại bệnh viện; không thể coi hai trường hợp này là một.

Đối với các khu vực chung như sảnh tiếp đón, hành lang hoặc sân bệnh viện, việc ghi hình không đương nhiên là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu bệnh viện đặt biển cấm quay phim, chụp ảnh trên toàn bộ khuôn viên, cần xem xét nội dung và căn cứ của quy định đó, mục đích hạn chế và phạm vi áp dụng. 

Chẳng hạn, nếu người nhà quay phim khiến nhân viên y tế không thể thực hiện cấp cứu hoặc ghi hình người bệnh khác trong tình trạng cần được bảo vệ riêng tư, bệnh viện có cơ sở để yêu cầu chấm dứt hành vi. Ngược lại, nếu người bệnh quay phim tại khu vực chung để lưu giữ diễn biến sự việc, nhưng bệnh viện chỉ yêu cầu dừng ghi hình vì có biển cấm mà không xác định được căn cứ áp dụng cụ thể, thì tính hợp pháp của việc ngăn cản cần được xem xét.

Nếu muốn ban hành quy định cấm quay phim, chụp ảnh, bệnh viện cần thực hiện những thủ tục gì?

Theo luật sư Hoàng Thị Hương Giang, để ban hành quy định cấm hoặc hạn chế quay phim, chụp ảnh, bệnh viện phải xuất phát từ căn cứ pháp lý và yêu cầu quản lý thực tế, không thể chỉ dựa vào mong muốn kiểm soát việc ghi hình trong khuôn viên của bệnh viện. 

Khoản 3 Điều 114 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 là căn cứ để người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn tại cơ sở. Tuy nhiên, thẩm quyền bảo đảm an ninh, trật tự không đồng nghĩa với quyền cấm ghi hình một cách tuyệt đối. 

Về thủ tục ban hành, luật sư Giang lưu ý rằng, pháp luật hiện hành không quy định một quy trình riêng, thống nhất cho tất cả bệnh viện về việc ban hành nội quy hạn chế ghi hình. Do đó, không nên mặc nhiên cho rằng mọi nội quy đều phải được Sở Y tế phê duyệt; điều cần kiểm tra là thẩm quyền của người ban hành, căn cứ pháp luật, nội dung và phạm vi áp dụng của quy định đó. Nếu nội quy được ban hành đúng thẩm quyền nhưng quy định cấm tuyệt đối, không phân biệt khu vực, mục đích và mức độ ảnh hưởng, thì việc có nội quy không đồng nghĩa với việc mọi yêu cầu thực hiện nội quy đều đương nhiên hợp pháp. 

Thạc sĩ, luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP Hà Nội). Ảnh: NVCC. 

Thạc sĩ, luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP Hà Nội). Ảnh: NVCC. 

Tự ý quay phim, chụp ảnh rồi đăng lên mạng xã hội có thể bị xử lý như thế nào? 

Luật sư Hoàng Thị Hương Giang cho hay, tùy tính chất, mức độ và hậu quả, người tự ý đăng tải hình ảnh, video có thể phải chịu các trách nhiệm sau:

Thứ nhất, trách nhiệm dân sự: Theo khoản 3 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có hình ảnh bị sử dụng trái pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh và bồi thường thiệt hại. Người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường theo Điều 34, Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu đủ căn cứ. 

Thứ hai, về xử phạt vi phạm hành chính: Theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Đây là mức phạt áp dụng đối với tổ chức; theo khoản 3 Điều 4 Nghị định này, mức phạt đối với cá nhân thực hiện hành vi tương ứng bằng một nửa, tức từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng. 

Trường hợp cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật thuộc điểm c khoản 2 Điều 95  mức phạt đối với cá nhân là từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng. Ngoài ra, khoản 3 Điều 95 còn quy định biện pháp buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật; trường hợp thuộc khoản 2, có thể áp dụng biện pháp buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung theo quy định.

Thứ ba, trách nhiệm hình sự: Nếu hành vi đăng tải nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc cố ý bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ, người thực hiện có thể bị xem xét về tội làm nhục người khác theo Điều 155 hoặc tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung. Nếu có hành vi đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông thuộc các dấu hiệu luật định, cũng cần xem xét Điều 288 Bộ luật Hình sự. 

Quỳnh Mai

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/benh-vien-co-duoc-phep-cam-nguoi-nha-benh-nhan-quay-phim-chup-anh-169261022173523454.htm