Bị đơn bỏ trốn khi đang bị kiện đòi nợ: Khi nào có thể xem xét trách nhiệm hình sự?
Nhiều chủ nợ cho rằng khi con nợ bỏ trốn thì coi như mất trắng. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, việc con nợ biến mất khỏi nơi cư trú không phải là dấu chấm hết cho quá trình đòi nợ mà ngược lại có thể trở thành một chứng cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm pháp lý của người vay.

(ảnh minh họa).
Con nợ cắt liên lạc, bỏ trốn không có nghĩa là "mất trắng" khoản vay
Không ít người cho vay tiền với đầy đủ giấy vay nợ, chuyển khoản, tin nhắn xác nhận nhưng khi mang hồ sơ ra Tòa án lại rơi vào tình huống trớ trêu: bị đơn đã rời khỏi nơi cư trú, không rõ địa chỉ hiện tại, Tòa án không thể tống đạt giấy triệu tập và vụ án đứng trước nguy cơ bị đình trệ hoặc trả lại đơn khởi kiện.
Luật sư, Ths. Lê Văn Thuyết - Giám đốc Công ty Luật TNHH DKI và Cộng sự (Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh) nhận định: Nhiều chủ nợ cho rằng khi con nợ bỏ trốn thì coi như mất trắng. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, việc con nợ biến mất khỏi nơi cư trú không phải là dấu chấm hết cho quá trình đòi nợ mà ngược lại có thể trở thành một chứng cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm pháp lý của người vay.

Luật sư, Ths. Lê Văn Thuyết.
Điều đầu tiên chủ nợ cần làm là thu thập toàn bộ tài liệu xác minh của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là nguồn chứng cứ khách quan và có giá trị rất lớn. Các tài liệu cần đề nghị sao chụp hoặc cung cấp gồm biên bản xác minh nơi cư trú của bị đơn, phiếu chuyển phát hoặc biên bản tống đạt không thành, văn bản trả lời của chính quyền địa phương, thông báo của Tòa án về việc không thể tống đạt giấy triệu tập hoặc các tài liệu khác thể hiện việc bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ đã cung cấp.
Những tài liệu này không chỉ phục vụ cho vụ kiện dân sự mà còn có thể trở thành chứng cứ quan trọng nếu sau này phát sinh việc tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản.
Bên cạnh đó, chủ nợ nên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh tình trạng cư trú của người vay. Trường hợp Công an xã, phường hoặc cơ quan quản lý cư trú xác nhận người vay đã rời khỏi địa phương, không còn sinh sống tại nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú và hiện không rõ nơi ở thì đây là căn cứ quan trọng chứng minh người vay đã bỏ khỏi nơi cư trú.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải cứ vay tiền rồi không trả là bị xử lý hình sự. Đây là quan niệm sai lầm khá phổ biến trong thực tế.
Khi nào hành vi trốn nợ có thể bị xử lý hình sự?
Theo Luật sư, Ths. Lê Văn Thuyết, quan hệ vay mượn thông thường trước hết là quan hệ dân sự. Người vay mất khả năng thanh toán, làm ăn thua lỗ hoặc gặp khó khăn tài chính chưa đồng nghĩa với việc phạm tội.
Dù vậy, pháp luật hình sự cũng quy định những trường hợp người vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Một trong những dấu hiệu đặc trưng của tội danh này là người vay nhận tài sản của người khác rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản đó.
Do đó, nếu chủ nợ có các tài liệu chứng minh việc giao nhận tiền là có thật, khoản nợ đã đến hạn thanh toán nhưng người vay cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Tòa án không thể triệu tập vì người này đã rời khỏi nơi cư trú, cơ quan chức năng xác nhận người đó không còn sinh sống tại địa phương và chủ nợ đã nhiều lần tìm kiếm, liên hệ nhưng không thể liên lạc được thì đây là những dấu hiệu quan trọng để cơ quan điều tra xem xét yếu tố “bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Trong thực tiễn hành nghề, nhiều vụ việc ban đầu chỉ là tranh chấp dân sự nhưng sau khi xuất hiện chứng cứ về việc người vay cố ý che giấu tung tích, cắt đứt liên lạc, rời bỏ nơi cư trú nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì cơ quan tiến hành tố tụng đã xem xét dưới góc độ hình sự.
Vì vậy, thay vì chỉ tập trung chứng minh việc đã giao tiền, chủ nợ cần chú trọng thu thập chứng cứ về hành vi bỏ trốn của người vay. Đây thường là mắt xích quyết định trong việc đánh giá bản chất của vụ việc là tranh chấp dân sự hay có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản.

"Trong các vụ việc đòi nợ, chứng cứ về việc con nợ bỏ trốn đôi khi quan trọng không kém chứng cứ giao nhận tiền. Một khoản nợ có thể được chứng minh bằng giấy tờ, nhưng để xác định có hay không hành vi chiếm đoạt thì cần chứng minh được ý thức trốn tránh nghĩa vụ của người vay.
Bởi vậy, khi Tòa án thông báo không thể triệu tập được bị đơn do người này đã rời khỏi nơi cư trú, chủ nợ không nên xem đó là thất bại. Đôi khi chính những tài liệu xác minh của Tòa án lại là chìa khóa mở ra hướng xử lý pháp lý hiệu quả hơn để bảo vệ quyền lợi của mình."
(Luật sư, Ths. Lê Văn Thuyết)
Khi có đủ căn cứ, chủ nợ có thể thực hiện quyền tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hồ sơ nên bao gồm giấy vay tiền, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, ghi âm, các tài liệu xác minh của Tòa án, xác nhận của cơ quan chức năng về tình trạng cư trú của người vay và toàn bộ lịch sử liên lạc thể hiện việc chủ nợ đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng không nhận được phản hồi.
Gửi đơn tố giác không có nghĩa người vay chắc chắn sẽ bị khởi tố. Tuy nhiên, đây là cơ sở để cơ quan điều tra tiến hành xác minh, làm rõ mục đích, động cơ và hành vi của người vay, từ đó đánh giá có hay không dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Từ kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến đòi nợ, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Luật sư, Ths. Lê Văn Thuyết nhận định: trong các vụ việc đòi nợ, chứng cứ về việc con nợ bỏ trốn đôi khi quan trọng không kém chứng cứ giao nhận tiền. Một khoản nợ có thể được chứng minh bằng giấy tờ, nhưng để xác định có hay không hành vi chiếm đoạt thì cần chứng minh được ý thức trốn tránh nghĩa vụ của người vay.
Bởi vậy, khi Tòa án thông báo không thể triệu tập được bị đơn do người này đã rời khỏi nơi cư trú, chủ nợ không nên xem đó là thất bại. Đôi khi chính những tài liệu xác minh của Tòa án lại là chìa khóa mở ra hướng xử lý pháp lý hiệu quả hơn để bảo vệ quyền lợi của mình.











![[Video] Kịp thời giải cứu 3 người mắc kẹt trong vụ cháy nhà tại Thanh Hóa](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_06_17_14_55415987/d8a345b53cfed5a08cef.jpg)