BIDV quý II/2026: Quy mô dẫn đầu, hiệu quả chưa cùng nhịp
BIDV tiếp tục là ngân hàng có bảng cân đối lớn nhất Việt Nam, với tổng tài sản vượt 3,44 triệu tỷ đồng và dư nợ cho vay hơn 2,5 triệu tỷ đồng.
* Bài viết thuộc Chuyên đề "Toàn cảnh ngân hàng Việt Nam: Từ báo cáo tài chính đến mạch nhịp kinh tế"
Quý II ghi nhận sự tăng tốc đáng kể của tín dụng, huy động và lợi nhuận. Tuy nhiên, khi đặt cạnh mặt bằng ngành, một khoảng cách vẫn hiện hữu: thu nhập lãi tăng nhanh nhưng tổng thu nhập, lợi nhuận trước dự phòng và lợi nhuận trước thuế đều tăng chậm hơn mức chung.
Cuối tháng 6/2026, tổng tài sản hợp nhất BIDV đạt gần 3,441 triệu tỷ đồng, tăng 1,6% so với cuối quý I, 3,3% so với đầu năm và 15% so với cùng kỳ.
Với quy mô này, BIDV tiếp tục giữ vị trí lớn nhất hệ thống, không chỉ về tổng tài sản mà cả dư nợ cho vay và tiền gửi khách hàng. Riêng cho vay khách hàng đã vượt 2,5 triệu tỷ đồng, còn tiền gửi khách hàng đạt gần 2,262 triệu tỷ đồng.
Nhưng nếu vị thế của BIDV trên bảng cân đối gần như không phải bàn cãi, bức tranh hiệu quả kinh doanh lại nhiều lớp hơn.

BIDV: Lợi nhuận quý II tăng cùng sự cải thiện của hoạt động cốt lõi
So sánh quý II/2025, quý I/2026 và quý II/2026; đơn vị: nghìn tỷ đồng.
Nguồn: BCTC BIDV; TheLEADER tính toán.
Hơn 72.000 tỷ đồng tín dụng được bơm thêm trong một quý
Quý II đánh dấu sự tăng tốc rõ rệt của hoạt động cho vay.
Dư nợ cho vay khách hàng tăng từ 2,430 triệu tỷ đồng cuối quý I lên gần 2,502 triệu tỷ đồng, tức tăng hơn 72.000 tỷ đồng chỉ sau ba tháng.
Mức tăng 3% trong quý đưa tăng trưởng tín dụng từ đầu năm lên khoảng 5,4%. So với cùng kỳ năm trước, dư nợ tăng 14,8%.
Đây là tốc độ đáng kể với một ngân hàng có nền dư nợ lớn nhất hệ thống khảo sát. Tuy nhiên, nếu nhìn theo tỷ lệ, tăng trưởng 14,8% vẫn thấp hơn mức khoảng 17,8% của tổng mẫu 27 ngân hàng.
Một điều đáng chú ý hơn nằm ở cách bảng cân đối thay đổi trong quý II.
Trong khi dư nợ tăng hơn 72.000 tỷ đồng, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác giảm tới 70.400 tỷ đồng. Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước lại tăng khoảng 52.600 tỷ đồng. Tổng tài sản vì vậy chỉ tăng khoảng 52.600 tỷ đồng.
Nói cách khác, BIDV không chỉ đơn thuần mở rộng bảng cân đối. Một phần nguồn lực đang được tái phân bổ từ thị trường liên ngân hàng sang tín dụng khách hàng.
Đây là chuyển động đáng quan sát bởi cho vay khách hàng thường là cấu phần tạo thu nhập lãi chính của ngân hàng.
BIDV dịch chuyển tài sản từ liên ngân hàng sang tín dụng
Mức thay đổi từ cuối quý I đến cuối quý II/2026; đơn vị: nghìn tỷ đồng.
Nguồn: BCTC BIDV; TheLEADER tính toán.
Thu nhập lãi tăng nhanh hơn tín dụng
Hiệu quả của phần tài sản sinh lãi thể hiện khá rõ trên báo cáo kết quả kinh doanh.
Thu nhập lãi thuần quý II đạt 17.804 tỷ đồng, tăng 13,2% so với quý I và 18,8% so với cùng kỳ.
Tốc độ này không chỉ cao hơn mức tăng 14,8% của dư nợ mà còn nhỉnh hơn mức tăng khoảng 17% của thu nhập lãi thuần trong toàn bộ mẫu ngân hàng.
Tổng thu nhập lãi của BIDV tăng từ 37.527 tỷ đồng lên gần 49.660 tỷ đồng, tương đương hơn 32%. Tuy nhiên, chi phí lãi cũng tăng hơn 41%, từ 22.535 tỷ lên 31.856 tỷ đồng.
Vì vậy, từ bộ số liệu hiện có, có thể khẳng định thu nhập lãi thuần đang tăng nhanh, nhưng chưa đủ cơ sở để quy toàn bộ diễn biến này cho sự cải thiện NIM.
Điểm đáng chú ý là trong khi “lõi lãi” tăng khá tốt, những nguồn thu khác lại không cùng nhịp.

Thu ngoài lãi giảm gần 18%
Tổng thu nhập hoạt động quý II đạt 23.638 tỷ đồng, chỉ tăng 7% so với cùng kỳ, thấp đáng kể so với mức tăng 18,8% của mẫu 27 ngân hàng.
Nguyên nhân chính nằm ở thu nhập ngoài lãi.
Tính bằng tổng thu nhập hoạt động trừ thu nhập lãi thuần, nguồn thu ngoài lãi của BIDV giảm từ khoảng 7.098 tỷ xuống 5.834 tỷ đồng, tương đương giảm gần 18%.
Sự suy giảm không diễn ra đồng đều.
Lãi thuần dịch vụ vẫn tăng nhẹ từ 1.887 tỷ lên 1.960 tỷ đồng. Lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh tăng từ 47 tỷ lên 136 tỷ đồng.
Ngược lại, lãi thuần ngoại hối giảm gần một nửa, từ 1.357 tỷ xuống 708 tỷ đồng. Đặc biệt, lãi từ chứng khoán đầu tư giảm từ gần 798 tỷ xuống chỉ còn khoảng 17 tỷ đồng. Lãi từ hoạt động khác gần như đi ngang quanh 2.850-2.900 tỷ đồng.
Đây là lý do quan trọng khiến mức tăng mạnh của thu nhập lãi chưa được chuyển hóa đầy đủ thành tăng trưởng tổng doanh thu.
Thu ngoài lãi suy giảm dù dịch vụ vẫn tăng
Một số cấu phần thu nhập ngoài lãi quý II; đơn vị: nghìn tỷ đồng.
Nguồn: BCTC BIDV; TheLEADER tính toán.
Lợi nhuận tăng gần 20%, nhưng vẫn chậm hơn ngành
Chi phí hoạt động quý II đạt gần 7.485 tỷ đồng, chỉ tăng khoảng 1,6% so với cùng kỳ.
Nhờ doanh thu tăng nhanh hơn chi phí, tỷ lệ CIR giảm từ khoảng 33,3% xuống 31,7%.
Đây là một cải thiện rõ rệt.
Lợi nhuận trước dự phòng nhờ đó đạt 16.153 tỷ đồng, tăng 9,7% YoY. Tuy nhiên, tốc độ này vẫn thấp hơn khá xa mức tăng khoảng 22,4% của mẫu 27 ngân hàng.
Chi phí dự phòng trong quý đạt 5.820 tỷ đồng, giảm 4,6% so với cùng kỳ.
Nhờ đó, lợi nhuận trước thuế tăng nhanh hơn lợi nhuận trước dự phòng, đạt 10.333 tỷ đồng, tăng 19,8% YoY.
Có thể bóc tách khá rõ mức tăng này.
So với quý II/2025, lợi nhuận trước dự phòng tăng khoảng 1.430 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng giảm khoảng 278 tỷ đồng. Tổng cộng hai yếu tố tạo ra khoảng 1.707 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế tăng thêm.
Như vậy, phần lớn tăng trưởng lợi nhuận của BIDV vẫn đến từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng, nhưng việc dự phòng giảm cũng đóng góp một phần.
Dù vậy, tăng trưởng LNTT 19,8% vẫn thấp hơn mức khoảng 24,5% của mẫu 27 ngân hàng.
BIDV: Quy mô và lợi nhuận cùng tăng chậm hơn mặt bằng ngành
Tăng trưởng quý II/2026 so với cùng kỳ; đơn vị: %.
Nguồn: BCTC 27 ngân hàng trong bộ dữ liệu; TheLEADER tính toán.
Quý II tốt lên rõ rệt so với quý I
Nếu so với quý trước thay vì cùng kỳ, bức tranh tích cực hơn.
Thu nhập lãi thuần tăng 13,2%, tổng thu nhập tăng 14,2% và lợi nhuận trước dự phòng tăng 14,8%.
Dù chi phí dự phòng tăng khoảng 5,9%, lợi nhuận trước thuế vẫn tăng tới 20,5%, từ 8.572 tỷ lên 10.333 tỷ đồng.
Điều này cho thấy động lực lợi nhuận quý II đến tương đối rõ từ hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ dựa vào việc giảm dự phòng.
Tính chung sáu tháng, BIDV ghi nhận khoảng 18.905 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng gần 18% so với cùng kỳ.
Thu nhập lãi thuần sáu tháng tăng gần 16%, trong khi tổng thu nhập tăng gần 11%.
Một lần nữa, thu nhập ngoài lãi là yếu tố khiến tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu thấp hơn tốc độ tăng của phần lõi lãi.
121.000 tỷ đồng tiền gửi quay trở lại trong quý II
Một trong những chuyển động đáng chú ý nhất của BIDV quý II nằm ở phía nguồn vốn.
Tiền gửi khách hàng tăng từ 2,141 triệu tỷ đồng lên gần 2,262 triệu tỷ đồng, tức tăng gần 121.000 tỷ đồng chỉ sau ba tháng.
Điều này đáng chú ý bởi quý I, tiền gửi khách hàng từng giảm hơn 82.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025.
Sau cú hồi phục quý II, tiền gửi khách hàng đã quay lại cao hơn cuối năm khoảng 38.700 tỷ đồng.
Không chỉ quy mô tăng, cơ cấu tiền gửi cũng có một điểm tích cực.
Tiền gửi không kỳ hạn tăng từ 417.366 tỷ lên 455.240 tỷ đồng, tức tăng gần 37.900 tỷ đồng trong quý. Tiền gửi tiết kiệm và có kỳ hạn tăng khoảng 81.900 tỷ đồng.
CASA nhờ đó tăng từ 19,49% lên 20,13%, nhỉnh hơn 19,88% cùng kỳ năm trước và gần như ngang mức bình quân 20,1% của mẫu 27 ngân hàng.
Đáng chú ý, cùng lúc tiền gửi khách hàng tăng mạnh, BIDV giảm hơn 65.000 tỷ đồng tiền gửi và vay từ các tổ chức tín dụng khác trong quý.
Sự dịch chuyển này cho thấy nguồn vốn khách hàng đang thay thế một phần nguồn vốn liên ngân hàng trong việc tài trợ bảng cân đối.
Tiền gửi BIDV bật tăng trở lại trong quý II
Cột: tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá, nghìn tỷ đồng; đường: CASA (%).
Nguồn: BCTC BIDV; TheLEADER tính toán.
Nợ xấu tăng so với quý I, nhưng vẫn thấp hơn một năm trước
Ở mặt chất lượng tài sản, quý II có hai hướng vận động trái chiều.
Tổng nợ nhóm 3-5 tăng từ khoảng 42.655 tỷ đồng cuối quý I lên 45.719 tỷ đồng, khiến tỷ lệ nợ xấu tăng từ khoảng 1,76% lên 1,83%.
Tuy nhiên, cùng kỳ năm trước tỷ lệ này vào khoảng 1,98%.
Như vậy, chất lượng tín dụng đang xấu đi nhẹ so với điểm cuối quý I nhưng vẫn tốt hơn so với một năm trước.
Một tín hiệu đáng chú ý khác là nợ nhóm 2 giảm từ 32.469 tỷ xuống 30.581 tỷ đồng và thấp hơn mức 33.547 tỷ đồng cùng kỳ.
Điều này phần nào làm giảm lo ngại rằng toàn bộ lớp nợ phía trước đang cùng lúc xấu đi.
Dù vậy, bộ đệm dự phòng đã mỏng hơn.
Dự phòng cho vay khách hàng cuối quý II còn khoảng 34.695 tỷ đồng, trong khi nợ xấu đạt 45.719 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ bao phủ khoảng 75,9%.
Con số này giảm từ khoảng 86,9% cuối quý I và 89,1% cùng kỳ năm trước.
So với mẫu 27 ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu 1,83% vẫn thấp hơn mức 2,01%, nhưng tỷ lệ bao phủ 75,9% lại thấp hơn nhẹ mức khoảng 78,9%.
Đây là điểm cần quan sát trong những quý tới.
Nợ xấu BIDV tăng nhẹ trong quý II, tỷ lệ bao phủ tiếp tục giảm
Nợ xấu trên dư nợ và tỷ lệ bao phủ nợ xấu; đơn vị: %.
Nguồn: BCTC BIDV; TheLEADER tính toán. Nợ xấu gồm nợ nhóm 3-5.
Quy mô số một, nhưng khoảng cách hiệu quả vẫn còn
BIDV đang ở một vị thế khá đặc biệt.
Ngân hàng dẫn đầu 27 ngân hàng về tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi khách hàng. Tuy nhiên, một loạt chỉ tiêu tăng trưởng hoạt động lại thấp hơn mặt bằng chung.
Tổng tài sản tăng 15% so với mức 20,1% của mẫu; tín dụng tăng 14,8% so với 17,8%; tiền gửi tăng 9% so với 12%.
Quan trọng hơn, dù thu nhập lãi thuần tăng nhanh hơn ngành, tổng thu nhập hoạt động chỉ tăng 7%, lợi nhuận trước dự phòng tăng 9,7% và lợi nhuận trước thuế tăng 19,8% - đều thấp hơn tốc độ chung của nhóm ngân hàng.
Điều này cho thấy thách thức của BIDV không nằm nhiều ở khả năng mở rộng quy mô.
Ở nền tài sản hơn 3,4 triệu tỷ đồng, câu hỏi quan trọng hơn là mỗi phần tăng thêm của bảng cân đối có thể tạo ra bao nhiêu thu nhập và lợi nhuận.
Quý II đã xuất hiện một số tín hiệu thuận lợi: tín dụng tăng tốc, tiền gửi khách hàng phục hồi mạnh, CASA cải thiện, nguồn vốn liên ngân hàng giảm và CIR tiếp tục đi xuống.
Nhưng để khoảng cách giữa quy mô và hiệu quả được thu hẹp rõ hơn, BIDV cần duy trì tăng trưởng thu nhập cốt lõi đồng thời phục hồi nguồn thu ngoài lãi, kiểm soát nợ xấu và tránh để bộ đệm dự phòng tiếp tục suy giảm.
Ở góc nhìn đó, quý II/2026 không phải một quý yếu của BIDV. Đây là một quý cải thiện rõ rệt, nhưng cũng cho thấy vị thế lớn nhất hệ thống chưa tự động chuyển thành tốc độ tăng lợi nhuận cao nhất.
* Bài viết thuộc Chuyên đề "Toàn cảnh ngân hàng Việt Nam: Từ báo cáo tài chính đến mạch nhịp kinh tế"


