Biến bài toán tiết kiệm năng lượng thành dòng tiền thực chất
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, doanh nghiệp biến tiềm năng tiết kiệm năng lượng thành các dự án đầu tư có khả năng vay vốn và có dòng tiền rõ ràng.
Doanh nghiệp cần vốn để đầu tư xanh
Chuyển đổi xanh đang dần trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp Việt Nam khi các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon và sử dụng năng lượng hiệu quả ngày càng tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã đặt ra nhiều mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm phát thải và sử dụng năng lượng tiết kiệm đồng thời từng bước hoàn thiện khung chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và khả năng triển khai trong thực tế vẫn là vấn đề đáng lưu ý. Bàn luận xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam:

PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam.
- Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khoảng cách khá lớn giữa mục tiêu, chính sách về tăng trưởng xanh với khả năng thực thi trong thực tế của doanh nghiệp.
Việt Nam không thiếu định hướng. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm ít nhất 15% cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP so với năm 2014 đồng thời giảm tiêu hao năng lượng sơ cấp trên GDP bình quân 1 - 1,5% mỗi năm. Vấn đề hiện nay là làm thế nào biến các mục tiêu đó thành những quyết định đầu tư cụ thể trong từng nhà máy, từng dây chuyền sản xuất và từng doanh nghiệp. Tôi cho rằng đang có ba khoảng trống cần xử lý đồng thời.
Thứ nhất là khoảng trống về thể chế và tiêu chuẩn. Các quy định về năng lượng, môi trường, phát thải carbon, kinh tế tuần hoàn, tín dụng xanh, tiêu chuẩn sản phẩm xanh đang dần được hoàn thiện nhưng doanh nghiệp vẫn cần một hệ thống tiêu chí thống nhất, ổn định và dễ thực hiện. Doanh nghiệp phải biết rõ thế nào là một dự án “xanh”, mức độ xanh đến đâu và tiêu chí nào được ngân hàng, cơ quan quản lý và thị trường quốc tế cùng chấp nhận.
Thứ hai là khoảng trống về nguồn lực, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đổi công nghệ, cải tạo dây chuyền, sử dụng năng lượng sạch hay xây dựng hệ thống đo lường phát thải đều đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu khá lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn có thể dài.
Bộ Công Thương cũng đánh giá nhiều dự án tiết kiệm năng lượng hiện gặp khó khăn do thời gian hoàn vốn dài, khó tiếp cận nguồn vốn phù hợp và năng lực quản trị năng lượng tại một số doanh nghiệp còn hạn chế.
Thứ ba là khoảng trống về dữ liệu và năng lực đo lường. Không đo được mức tiêu thụ năng lượng và phát thải thì không thể quản trị được chuyển đổi xanh.
Vì vậy, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ “ban hành mục tiêu xanh” sang “tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu xanh”.
- Doanh nghiệp đang thiếu gì để chuyển đổi xanh, đặc biệt trong đầu tư công nghệ và sử dụng năng lượng hiệu quả?
PGS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, doanh nghiệp không chỉ thiếu vốn. Họ đang thiếu cả vốn dài hạn, công nghệ phù hợp, thông tin, nhân lực và một cơ chế đủ hấp dẫn để khoản đầu tư xanh trở thành khoản đầu tư có hiệu quả kinh tế.
Trước hết là vốn. Đặc điểm của đầu tư xanh là chi phí ban đầu tương đối lớn nhưng lợi ích thường được thu hồi trong nhiều năm thông qua giảm tiêu hao nguyên liệu, điện, nhiên liệu, giảm chi phí môi trường và tăng khả năng tiếp cận thị trường. Nếu doanh nghiệp phải vay vốn thương mại ngắn hạn với chi phí cao thì nhiều dự án dù hiệu quả về dài hạn vẫn khó được triển khai.
Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn tín dụng xanh, quỹ tiết kiệm năng lượng, mô hình công ty dịch vụ năng lượng - ESCO, bảo lãnh tín dụng và các cơ chế chia sẻ rủi ro cho dự án đổi mới công nghệ. Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 và khung pháp lý mới cũng đặt trọng tâm vào thúc đẩy đổi mới công nghệ và mở rộng các cơ chế hỗ trợ, tài chính xanh. Vấn đề quan trọng bây giờ là đưa các cơ chế đó vào thực tế.
Thứ hai là công nghệ và năng lực lựa chọn công nghệ. Không phải cứ mua thiết bị mới là chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp cần xác định chính xác công đoạn nào đang tiêu hao nhiều điện, nhiên liệu, nước và nguyên liệu nhất để đầu tư đúng chỗ. Kiểm toán năng lượng, quản trị năng lượng và số hóa dữ liệu sản xuất phải đi trước hoặc song hành với đầu tư thiết bị.
Thứ ba là khả năng tiếp cận năng lượng sạch với giá hợp lý và ổn định. Chính sách mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn đã tiếp tục được điều chỉnh trong năm 2026 qua Nghị định 243/2026/NĐ-CP. Cần tiếp tục tạo điều kiện để doanh nghiệp có nhiều lựa chọn hơn về nguồn điện xanh.
Cuối cùng là nhân lực. Chuyển đổi xanh không thể chỉ giao cho bộ phận môi trường. Nó phải trở thành vấn đề của giám đốc tài chính, giám đốc sản xuất, bộ phận công nghệ, mua hàng và chiến lược doanh nghiệp.
Xanh hóa phải tạo lợi thế cạnh tranh
- Làm thế nào để tránh tình trạng “xanh hóa hình thức” để chuyển đổi xanh thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế?
PGS.TS Ngô Trí Long: Muốn tránh “xanh hóa hình thức”, theo tôi phải thực hiện một nguyên tắc rất rõ: Mọi cam kết xanh phải đo được bằng số liệu và cuối cùng phải chuyển thành hiệu quả kinh tế hoặc giảm phát thải thực tế.
Không nên đánh giá một doanh nghiệp xanh chỉ bằng việc doanh nghiệp có báo cáo ESG, trồng bao nhiêu cây hay sử dụng bao nhiêu khẩu hiệu về phát triển bền vững. Cần nhìn vào những chỉ tiêu có thể kiểm chứng như: Một đơn vị sản phẩm sử dụng bao nhiêu điện, bao nhiêu nhiên liệu, bao nhiêu nguyên liệu; phát thải bao nhiêu CO₂; tỷ lệ tái chế chất thải là bao nhiêu; sau đầu tư công nghệ, chi phí sản xuất giảm bao nhiêu và năng suất tăng thế nào.
Nói cách khác, phải chuyển từ “xanh bằng cam kết” sang “xanh bằng kết quả”. Điều này càng quan trọng khi các thị trường xuất khẩu lớn đang biến tiêu chuẩn môi trường thành điều kiện tiếp cận thị trường. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU (CBAM) đã bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026, trước mắt áp dụng đối với một số nhóm hàng như sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydrogen. Như vậy, phát thải carbon đang dần trở thành một yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Chuyển đổi xanh đang đặt ra yêu cầu mới với doanh nghiệp.
Do đó, Nhà nước cần xây dựng hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm tra minh bạch; hạn chế tình trạng doanh nghiệp tự tuyên bố sản phẩm xanh nhưng không có tiêu chí kiểm chứng. Còn đối với doanh nghiệp nên ưu tiên những dự án mà lợi ích môi trường đi cùng lợi ích kinh tế: tiết kiệm điện, giảm nhiên liệu, giảm nguyên liệu đầu vào, tận dụng phụ phẩm, tái sử dụng nước, giảm chất thải và nâng hiệu suất thiết bị.
Nếu chuyển đổi xanh làm giảm chi phí, nâng năng suất, giữ được đơn hàng và mở được thị trường mới thì doanh nghiệp sẽ tự có động lực thực hiện. Khi đó, xanh không còn là chi phí tuân thủ mà trở thành năng lực cạnh tranh.
- Theo ông, ngành Công Thương cần làm gì để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi xanh và nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?
PGS.TS Ngô Trí Long: Tôi cho rằng ngành Công Thương cần chuyển mạnh từ vai trò chủ yếu quản lý việc tuân thủ sang đồng thời thực hiện vai trò kiến tạo hệ sinh thái chuyển đổi xanh cho doanh nghiệp.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện và đồng bộ hóa thể chế, đặc biệt giữa chính sách công nghiệp, năng lượng, thương mại, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.
Năm 2026 đã có những bước tiến quan trọng như Luật số 77/2025/QH15 về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đi vào thực thi, Nghị định 30/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện và Nghị định 243/2026/NĐ-CP điều chỉnh cơ chế mua bán điện trực tiếp. Vấn đề tiếp theo là tổ chức thực hiện sao cho doanh nghiệp tiếp cận chính sách dễ dàng và chi phí tuân thủ thấp.
Thứ hai, cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật thực chất cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ chuyên gia để tính dấu chân carbon, kiểm toán năng lượng hay đáp ứng CBAM. Nhà nước có thể hình thành mạng lưới tư vấn, cơ sở dữ liệu và các chương trình hỗ trợ dùng chung để giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Thứ ba, phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn và năng lượng xanh. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đặt mục tiêu tiết kiệm khoảng 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc vào năm 2030 so với kịch bản thông thường. Nhưng để đạt được mục tiêu này, cần biến tiềm năng tiết kiệm năng lượng thành các dự án đầu tư có khả năng vay vốn và có dòng tiền rõ ràng.
Thứ tư, cần coi tiêu chuẩn xanh là một phần của chính sách xuất khẩu. Bộ Công Thương đã xác định trong năm 2026 việc thúc đẩy xuất khẩu xanh, đáp ứng các yêu cầu như CBAM là một nhiệm vụ quan trọng. Cần cảnh báo sớm các tiêu chuẩn mới của EU, Mỹ và các thị trường lớn để doanh nghiệp điều chỉnh công nghệ trước khi hàng hóa gặp rào cản.
Cuối cùng, tôi cho rằng cần thay đổi cách nhìn về chuyển đổi xanh. Đây không chỉ là câu chuyện bảo vệ môi trường mà là một cuộc tái cơ cấu năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, trong giai đoạn tới, doanh nghiệp nào sử dụng ít năng lượng hơn, ít nguyên liệu hơn, phát thải thấp hơn nhưng tạo ra giá trị cao hơn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế. Vì vậy, nhiệm vụ của ngành Công Thương là tạo ra một môi trường trong đó doanh nghiệp càng đầu tư xanh thì càng tiết kiệm chi phí, càng dễ tiếp cận vốn và càng có nhiều cơ hội tham gia thị trường quốc tế.
