Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh: Phải neo thị trường vào nền kinh tế thực
Việt Nam đang xây dựng Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh trong bối cảnh quy mô thị trường ngày càng lớn, nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá của doanh nghiệp gia tăng và hội nhập thị trường hàng hóa quốc tế ngày càng sâu rộng. Kinh nghiệm từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản và Singapore cho thấy, một Sở giao dịch chỉ thực sự có giá trị khi gắn thị trường phái sinh với hàng hóa vật chất, tạo thanh khoản thực chất, hình thành giá tham chiếu và có hệ thống thanh toán – bù trừ đủ an toàn. Vì vậy, Luật cần hướng tới xây dựng một hạ tầng quản trị rủi ro cho nền kinh tế, chứ không đơn thuần mở rộng một “sân chơi” giao dịch.
Việc xây dựng một đạo luật riêng về giao dịch hàng hóa phái sinh là bước phát triển cần thiết của thể chế thị trường Việt Nam. Hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch đã được điều chỉnh từ Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, sau khoảng hai thập niên, quy mô giao dịch, phương thức tổ chức, mức độ liên thông quốc tế cũng như rủi ro thị trường đã thay đổi đáng kể. Theo Bộ Công Thương, năm 2025, tổng khối lượng giao dịch đạt khoảng 1,54 triệu hợp đồng, tăng hơn 34% so với năm trước; tổng giá trị giao dịch ước trên 1,9 triệu tỷ đồng. Song cơ quan quản lý cũng chỉ rõ một hạn chế căn bản: mức độ gắn kết giữa giao dịch phái sinh và thị trường hàng hóa vật chất trong nước còn chưa tương xứng. Bởi vậy, khi xây dựng Luật, câu hỏi quan trọng không chỉ là làm thế nào để thị trường giao dịch lớn hơn, mà phải là: thị trường hàng hóa phái sinh sẽ đóng góp gì cho sản xuất, xuất khẩu, quản trị rủi ro và năng lực hình thành giá của nền kinh tế Việt Nam?

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Ảnh: Hồ Long
Không phải càng nhiều hợp đồng càng tốt
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, sức mạnh của một Sở giao dịch không nằm ở số lượng sản phẩm được niêm yết mà ở mức độ gắn kết với lợi thế kinh tế và nhu cầu phòng vệ rủi ro thực sự của doanh nghiệp. Trung Quốc tổ chức các Sở giao dịch tương đối rõ theo lợi thế từng nhóm hàng. Sở Giao dịch Hàng hóa Trịnh Châu phát triển các hợp đồng về bông, đường, lúa mì; Đại Liên nổi bật với đậu tương, quặng sắt; Thượng Hải tập trung vào kim loại; Sở Giao dịch Năng lượng Quốc tế Thượng Hải phát triển dầu thô; còn Quảng Châu hướng vào lithium carbonate, silicon và các nguyên liệu của nền kinh tế xanh. Malaysia lựa chọn dầu cọ – một lợi thế quốc gia – làm sản phẩm chủ lực. Năm 2025, hợp đồng tương lai dầu cọ thô trên Bursa Malaysia Derivatives đạt khoảng 19,6 triệu hợp đồng và giá hình thành tại Kuala Lumpur trở thành một tham chiếu quan trọng trong thương mại dầu thực vật quốc tế. Indonesia tập trung vào thiếc; Nhật Bản có thế mạnh về cao su; Singapore phát triển các sản phẩm gắn với vai trò trung tâm thương mại, tài chính và logistics quốc tế.
Bài học không phải Việt Nam cần sao chép mô hình nào, mà là phải bắt đầu từ câu hỏi: Việt Nam có lợi thế về hàng hóa nào và doanh nghiệp đang cần phòng vệ rủi ro giá nào? Việt Nam có vị thế đáng kể trên thị trường thế giới về cà phê, gạo, hồ tiêu, cao su, điều và một số sản phẩm nông, thủy sản. Nhưng ở nhiều ngành hàng, doanh nghiệp vẫn phải sử dụng các mức giá hình thành ở nước ngoài làm cơ sở tham chiếu. Do đó, chính sách phát triển thị trường không nên chạy theo số lượng sản phẩm. Một Sở giao dịch có hàng chục hợp đồng nhưng thanh khoản mỏng, doanh nghiệp sản xuất không tham gia, mức giá hình thành không được sử dụng trong hoạt động mua bán thực tế thì đóng góp cho nền kinh tế sẽ rất hạn chế. Ngược lại, nếu lựa chọn được một số mặt hàng Việt Nam có lợi thế, quy mô sản xuất và xuất khẩu đủ lớn, nhu cầu phòng ngừa rủi ro rõ ràng, rồi tập trung xây dựng thị trường đủ chiều sâu, chúng ta có cơ hội từng bước hình thành giá tham chiếu tại Việt Nam.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Đoàn Thị Thanh Mai phát biểu tại cuộc họp thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Ảnh: Hồ Long
Thanh khoản thực, doanh nghiệp thực và nhu cầu phòng vệ rủi ro thực mới tạo nên sức sống của một Sở giao dịch
Muốn có “giá Việt Nam”, phải bắt đầu từ hàng hóa vật chất. Một trong những bài học quan trọng nhất từ các thị trường phát triển là không thể tách “hàng hóa trên giấy” khỏi hàng hóa thật. Một hợp đồng tương lai về cà phê, gạo, cao su hay kim loại muốn hoạt động ổn định phải dựa trên hệ thống tiêu chuẩn hàng hóa, kiểm định chất lượng, kho bãi, logistics, chứng từ và cơ chế giao nhận. Kinh nghiệm của Sở Giao dịch Hàng hóa Trịnh Châu và Đại Liên cho thấy việc chuẩn hóa hợp đồng phức tạp hơn rất nhiều so với việc xác định tên hàng hóa. Phải xác định rõ phẩm cấp được giao nhận, tiêu chuẩn chất lượng, địa điểm giao hàng, quy trình lấy mẫu, giám định và xử lý tranh chấp. Nếu tiêu chuẩn quá chặt, lượng hàng đủ điều kiện giao nhận thấp sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản; nếu quá lỏng, người mua không còn tin tưởng vào chất lượng hàng hóa. Đây là vấn đề rất thực tế đối với Việt Nam. Nếu muốn phát triển một hợp đồng cà phê Việt Nam có khả năng trở thành giá tham chiếu, không thể chỉ đưa một mã hàng lên hệ thống giao dịch. Phía sau nó phải là quy định rõ về chủng loại, độ ẩm, tỷ lệ hạt lỗi, tiêu chuẩn kho, giám định độc lập, chứng từ kho và cơ chế giao nhận. Đối với gạo, vấn đề còn phức tạp hơn bởi có nhiều giống, phẩm cấp và thị trường xuất khẩu khác nhau. Nếu hàng hóa cơ sở chưa đủ chuẩn hóa thì rất khó tạo một hợp đồng đủ thanh khoản. Kinh nghiệm Malaysia và Indonesia cũng cho thấy sản lượng lớn chưa đương nhiên tạo ra quyền định giá. Malaysia đã xây dựng được vị thế quốc tế đối với hợp đồng dầu cọ. Trong khi đó, dù Indonesia là một trong những quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới, hợp đồng dầu cọ nội địa từng gặp khó khăn vì nhiều doanh nghiệp lớn vẫn lựa chọn thị trường bên ngoài để định giá và phòng vệ. Bài học ở đây rất rõ: có hàng hóa lớn mới chỉ là điều kiện cần; thanh khoản, doanh nghiệp tham gia và niềm tin thị trường mới tạo ra khả năng hình thành giá. Vì vậy, Luật cần tạo khuôn khổ để phát triển đồng bộ thị trường phái sinh với thị trường vật chất, từ tiêu chuẩn chất lượng, kiểm định, kho bãi, logistics, chứng từ kho đến giao nhận. Nếu muốn một ngày nào đó giá cà phê, gạo, cao su hay một mặt hàng thế mạnh khác của Việt Nam được các doanh nghiệp trong và ngoài nước sử dụng rộng rãi làm tham chiếu, chúng ta phải xây nền móng từ chính thị trường hàng hóa vật chất.
Mở thị trường nhưng phải có những “khóa an toàn”
Phái sinh hàng hóa trước hết là công cụ quản trị rủi ro. Một doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu có thể khóa giá đầu vào; doanh nghiệp xuất khẩu có thể phòng ngừa nguy cơ giá giảm; người sản xuất có thêm tín hiệu để quyết định sản lượng và thời điểm bán hàng. Nhưng đây cũng là thị trường sử dụng ký quỹ và đòn bẩy. Khi giá biến động mạnh, yêu cầu bổ sung ký quỹ có thể tăng nhanh. Nếu quản trị không tốt, rủi ro của một thành viên có thể lan sang những thành viên khác. Do đó, một nội dung đặc biệt quan trọng của Luật là thiết kế hệ thống thanh toán – bù trừ tập trung. Trung tâm thanh toán bù trừ phải thực sự trở thành “bộ giảm xóc” của thị trường: quản lý ký quỹ, đánh giá vị thế, kiểm soát giới hạn giao dịch, giám sát khả năng thanh toán và xử lý trường hợp thành viên mất khả năng thực hiện nghĩa vụ. Kinh nghiệm tại Thượng Hải, Osaka và các thị trường lớn cho thấy khi mở rộng kết nối quốc tế, yêu cầu về công nghệ, dữ liệu và quản trị rủi ro tăng rất nhanh. Hệ thống giao dịch và bù trừ phải đủ sức xử lý biến động lớn, bảo đảm an toàn thông tin và giám sát rủi ro gần như theo thời gian thực. Vì vậy, Luật cần làm rõ vị trí pháp lý, trách nhiệm và tính độc lập cần thiết của Trung tâm thanh toán bù trừ; trách nhiệm của Sở giao dịch và các thành viên; cơ chế quản lý ký quỹ, giới hạn vị thế, xử lý mất khả năng thanh toán; đồng thời thiết lập cơ chế phát hiện giao dịch bất thường, thao túng giá và xung đột lợi ích. Cùng với đó là vấn đề phối hợp giám sát.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân phát biểu tại cuộc họp thẩm tra sơ bộ dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh. Ảnh: Hồ Long
Giao dịch hàng hóa phái sinh nằm ở giao điểm giữa thương mại, tài chính, ngân hàng, ngoại hối, thuế, đầu tư quốc tế và phòng, chống rửa tiền. Vì vậy, cơ chế quản lý không thể bị chia cắt theo từng lĩnh vực. Luật cần tạo cơ sở cho hệ thống giám sát dựa trên dữ liệu, có khả năng kết nối thông tin và cảnh báo sớm giữa các cơ quan chức năng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một Sở giao dịch hàng hóa phát triển không đơn thuần là nơi người mua và người bán thực hiện các hợp đồng. Nó có thể trở thành một bộ phận của hạ tầng kinh tế quốc gia, giúp doanh nghiệp quản trị giá, cung cấp tín hiệu thị trường cho Nhà nước và từng bước nâng khả năng định giá của quốc gia đối với những mặt hàng có lợi thế. Đối với một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam, thường xuyên chịu ảnh hưởng của biến động giá năng lượng, nguyên liệu và nông sản quốc tế, nhu cầu về một hạ tầng quản trị rủi ro như vậy là rất rõ. Bởi vậy, giá trị lớn nhất của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh không phải ở việc tạo thêm một thị trường để đầu tư, mà là tạo ra một cơ chế giúp chuyển rủi ro giá từ trạng thái doanh nghiệp phải thụ động gánh chịu sang trạng thái có thể nhận diện, phân bổ và quản trị. Xa hơn, nếu Việt Nam từng bước hình thành được giá tham chiếu cho một số hàng hóa mà chúng ta có lợi thế, thì ý nghĩa của Luật còn vượt ra ngoài phạm vi một thị trường phái sinh. Khi đó, Việt Nam sẽ từng bước chuyển từ vị thế “có sản lượng lớn nhưng chủ yếu nhận giá” sang vị thế có tiếng nói ngày càng lớn hơn trong quá trình hình thành giá. Đó mới là thước đo dài hạn đối với thành công của Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh.


