Bỏ chức danh nghề nghiệp, viên chức sẽ được quản lý thế nào?
Dự thảo Nghị định mới được Bộ Nội vụ soạn thảo sẽ định hình lại cách quản lý viên chức theo vị trí việc làm, thay thế dần cơ chế chức danh nghề nghiệp.
Dự thảo Nghị định quy định về vị trí việc làm viên chức do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo xác lập vị trí việc làm là căn cứ trung tâm trong quản lý viên chức. Theo đó, các hoạt động như tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, đánh giá và thực hiện chính sách đều được thực hiện trên cơ sở vị trí việc làm.
Bộ Nội vụ đánh giá việc quản lý viên chức theo mô hình chức nghiệp kết hợp với vị trí việc làm (vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp) chưa thực sự tạo động lực để viên chức phấn đấu nâng cao chất lượng công việc.
Bên cạnh đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, sử dụng chưa thực sự gắn với yêu cầu của vị trí việc làm; chưa thực sự tuyển chọn, thu hút, khuyến khích người có đức, có tài, có năng lực, trình độ, nhất là nguồn nhân lực trẻ, chất lượng cao.

Vị trí việc làm sẽ là cơ sở xuyên suốt trong quản trị nhân sự khu vực sự nghiệp công lập.
Trong bối cảnh Luật Viên chức năm 2025 không còn quy định hệ thống chức danh nghề nghiệp như một trục quản lý độc lập, dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm, đồng thời bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của pháp luật.
Dự thảo Nghị định quy định danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành ba nhóm: vị trí quản lý, vị trí chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí hỗ trợ. Danh mục này được ban hành thống nhất kèm theo Nghị định, làm cơ sở để các đơn vị lựa chọn và áp dụng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
Với các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ, dự thảo xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động tương ứng với một vị trí việc làm. Trong từng vị trí, có thể phân theo nhóm chuyên môn hoặc lĩnh vực chuyên sâu để phản ánh đầy đủ nội dung công việc thực tế.
Theo đề xuất của Bộ Nội vụ, hệ thống bậc nghề nghiệp được thiết kế thống nhất trong từng vị trí việc làm, phản ánh mức độ phát triển nghề nghiệp của viên chức. Các bậc này được xác định dựa trên độ phức tạp của nhiệm vụ, kết quả công việc, mức độ đáp ứng khung năng lực và phạm vi trách nhiệm.
Cụ thể: Bậc 1 là thực hiện nhiệm vụ cơ bản theo hướng dẫn, quy trình có sẵn; Bậc 2 là thực hiện nhiệm vụ độc lập theo quy trình; Bậc 3 là phân tích, tổng hợp thông tin, xử lý các tình huống phát sinh, chịu trách nhiệm độc lập về kết quả nhiệm vụ; Bậc 4 là chủ trì, tổ chức thực hiện, phân công, kiểm tra, đánh giá; Bậc 5 là định hướng, dẫn dắt phát triển chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, quy trình.
Dự thảo quy định mỗi vị trí việc làm phải được xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực. Bao gồm các nội dung như mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm công việc, yêu cầu về năng lực, mối quan hệ công tác và phạm vi quyền hạn. Khung năng lực được thiết kế tương ứng với từng bậc nghề nghiệp, làm cơ sở để đánh giá mức độ đáp ứng của viên chức đối với vị trí đảm nhiệm.
Với vị trí quản lý, ngoài yêu cầu chuyên môn, dự thảo bổ sung tiêu chí về năng lực điều hành và kết quả hoạt động của đơn vị, gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả chung.
Dự thảo cũng mở rộng phân cấp, trao quyền chủ động cho đơn vị sự nghiệp công lập trong bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ theo vị trí việc làm. Quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm của người đứng đầu trong việc bảo đảm hiệu quả sử dụng nhân sự, đúng người, đúng việc. Cơ chế này được kiểm soát thông qua hệ thống tiêu chí, khung năng lực và đánh giá kết quả, nhằm hạn chế tình trạng tùy tiện trong sử dụng nhân sự.
Đồng thời, quản lý vị trí việc làm được yêu cầu gắn với ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Cơ sở dữ liệu về vị trí việc làm, hồ sơ năng lực và kết quả đánh giá giúp nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi, điều hành thống nhất trên toàn hệ thống.











