Bỏ điểm cộng IELTS: Cần sớm công bố quy định, tránh tâm lý lo lắng, bị động cho phụ huynh, thí sinh
Việc sử dụng chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học thời gian qua tạo ra nhiều tranh luận, nhất là khi chứng chỉ này vừa có thể được quy đổi thành điểm môn tiếng Anh, vừa được cộng điểm thưởng ở một số phương án tuyển sinh.

Ảnh minh họa
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, IELTS nên được xem là công cụ đánh giá năng lực giao tiếp và hội nhập trong môi trường quốc tế, thay vì được sử dụng như một chỉ báo chung cho năng lực học thuật hoặc mức độ phù hợp với mọi ngành đào tạo.
Một vấn đề được ông Nam lưu ý là hiện có trường vừa quy đổi IELTS thành điểm môn tiếng Anh, vừa cộng thêm điểm thưởng. Với những ngành có điểm chuẩn cao, chỉ một phần nhỏ điểm cộng cũng có thể tạo ra khác biệt đáng kể trong thứ tự xét tuyển. Khi đó, chứng chỉ ngoại ngữ có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh lớn hơn giá trị đo lường năng lực ban đầu.
Vì vậy, ông cho rằng việc bỏ điểm cộng riêng cho IELTS là hướng điều chỉnh có cơ sở. Thí sinh có chứng chỉ vẫn được ghi nhận năng lực tiếng Anh nhưng năng lực này nên được ghi nhận một lần và đúng vị trí.

PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Theo ông, cách tiếp cận này cũng phù hợp với yêu cầu tuyển sinh theo năng lực thực chất của thí sinh. Mỗi ngành đào tạo có yêu cầu khác nhau, vì vậy không nên mặc định chứng chỉ tiếng Anh là lợi thế có giá trị tương đương đối với tất cả ngành học.
TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD-ĐT cũng cho rằng cách lý giải về việc điều chỉnh điểm cộng IELTS là có cơ sở. Theo ông, mỗi ngành học có một "bản sắc" riêng, đòi hỏi những kiến thức nền tảng tương ứng từ bậc phổ thông.
Việc tuyển sinh cần diễn ra trên một mặt bằng chung, trong đó các môn trong tổ hợp xét tuyển phản ánh những năng lực cần thiết để theo học chuyên ngành.
TS Hoàng Ngọc Vinh cũng đặt vấn đề về sự bất hợp lý khi chứng chỉ ngoại ngữ được quy đổi thành lợi thế trong khi những môn công cụ khác không có cơ chế tương tự. Từ đó, ông cho rằng năng lực tiếng Anh không thể trở thành thước đo duy nhất để bảo đảm khả năng học tập chuyên môn của một thí sinh.
Khoảng cách cơ hội giữa các nhóm học sinh
Bên cạnh cách thức sử dụng chứng chỉ, PGS.TS Trần Thành Nam đặc biệt lưu ý đến sự khác biệt về điều kiện tiếp cận IELTS. Học sinh ở thành phố, gia đình có điều kiện kinh tế thường dễ tiếp cận trung tâm ngoại ngữ, giáo viên, tài liệu học tập và có khả năng thi lại nhiều lần để cải thiện điểm số.
Trong khi đó, học sinh ở nông thôn, miền núi hoặc gia đình khó khăn có thể có năng lực học tập tốt nhưng không đủ điều kiện đầu tư cho chứng chỉ quốc tế. Sự chênh lệch này khiến việc cộng điểm IELTS có thể tạo thêm khoảng cách giữa các nhóm thí sinh.
TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng rất nhiều học sinh ở vùng sâu, vùng xa, gia đình không có điều kiện tài chính vẫn có năng lực tốt ở các môn Toán, Lý, Hóa. Nếu thiếu điều kiện sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ, các em có thể gặp bất lợi trong những phương thức xét tuyển có điểm cộng.
Theo ông, việc điều chỉnh điểm cộng chứng chỉ cần được nhìn nhận trong mục tiêu lớn hơn là bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho các nhóm học sinh có hoàn cảnh khác nhau.
Cùng với việc thay đổi cách sử dụng chứng chỉ, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo viên, học liệu số, môi trường giao tiếp và cơ hội học tiếng Anh tại các khu vực khó khăn.
Khi học sinh ở các vùng miền đều có cơ hội tiếp cận giáo dục ngoại ngữ chất lượng, việc đánh giá năng lực tiếng Anh sẽ có cơ sở công bằng hơn.

TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD-ĐT.
Một vấn đề khác được các chuyên gia lưu ý là nguy cơ thay đổi động cơ học ngoại ngữ. Theo TS Hoàng Ngọc Vinh, việc nhiều phụ huynh sẵn sàng đầu tư không ít tiền bạc và thời gian để con luyện thi IELTS cho thấy tâm lý "học để thi" vẫn khá phổ biến. Khi chứng chỉ mang lại lợi thế trực tiếp trong xét tuyển, học ngoại ngữ có thể bị thu hẹp thành quá trình luyện đề, nâng điểm.
Trong khi đó, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng việc bỏ điểm cộng IELTS không mâu thuẫn với mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Theo ông, hai vấn đề có phạm vi khác nhau. Việc sử dụng chứng chỉ trong tuyển sinh là một cơ chế đánh giá đầu vào, còn việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai hướng tới hình thành năng lực sử dụng ngoại ngữ lâu dài cho học sinh.
Theo ông Nam, để tiếng Anh thực sự trở thành năng lực phổ thông, học sinh cần sử dụng được ngôn ngữ để học tập, tìm kiếm tri thức, giao tiếp trong đời sống, tiếp cận tài liệu chuyên môn và duy trì khả năng sử dụng sau khi rời trường học.
Nếu chính sách tuyển sinh chỉ tạo ra cuộc đua lấy chứng chỉ để được cộng điểm, việc học ngoại ngữ có nguy cơ tập trung quá nhiều vào một kỳ thi thay vì năng lực sử dụng thực tế.
Do đó, ông cho rằng chính sách ngoại ngữ nên chú trọng đầu ra. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên cần đáp ứng chuẩn năng lực tiếng Anh phù hợp với chương trình đào tạo và yêu cầu nghề nghiệp.

Thạc sĩ Phạm Thái Sơn, Giám đốc tuyển sinh và truyền thông Trường ĐH Công Thương TPHCM.
Cần lộ trình để thí sinh chủ động
Trong khi đó, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương TPHCM, cho rằng việc thay đổi cách sử dụng chứng chỉ tiếng Anh cần được thực hiện theo lộ trình, thay vì bỏ ngay lập tức.
Theo ông Sơn, trong những năm qua, nhiều học sinh đã đầu tư thời gian, công sức và chi phí để học và thi chứng chỉ với kỳ vọng sử dụng trong xét tuyển đại học. Nếu chính sách thay đổi đột ngột, nhóm thí sinh này có thể bị ảnh hưởng bởi kế hoạch đã chuẩn bị từ trước.
"Bỏ luôn thì có thể gây phản ứng từ phụ huynh, thí sinh đã chuẩn bị chứng chỉ. Theo tôi, giảm dần sẽ hợp lý hơn. Năm nay giảm còn tối đa 0,75 điểm, năm sau bỏ hẳn quy định này thì tốt hơn", ông Sơn nói.
Lộ trình chuyển tiếp sẽ giúp thí sinh, phụ huynh và các trường có thời gian thích ứng. Các trường cũng có thể chủ động rà soát phương án tuyển sinh, công bố sớm mức điểm quy đổi và cách sử dụng chứng chỉ.
PGS.TS Trần Thành Nam cũng nhấn mạnh Bộ GD-ĐT cần sớm công bố quy định chính thức. Nhiều học sinh đã xây dựng kế hoạch học tập dựa trên phương án tuyển sinh được công bố trước đó. Nếu thay đổi sát kỳ tuyển sinh, học sinh và phụ huynh dễ rơi vào tâm lý lo lắng, bị động.



