Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu làm sạch dữ liệu giáo dục trước 30/10
Chuyển đổi số năm học 2026-2027 phải gắn với đổi mới quản lý, dạy học và kiểm tra, đánh giá; tăng sử dụng nền tảng dùng chung, ứng dụng AI an toàn và thực hiện nguyên tắc dữ liệu cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần.
Làm sạch dữ liệu, giảm gánh nặng hành chính
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành Văn bản số 6020/BGDĐT-KHCNTT gửi các sở GD&ĐT, hướng dẫn một số nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số năm học 2026-2027.

Các cơ sở giáo dục tăng cường bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng và dữ liệu cá nhân.
Theo đó, chuyển đổi số phải trở thành công việc thường xuyên, gắn với quản lý, dạy học, kiểm tra, đánh giá và cung cấp dịch vụ giáo dục. Hiệu quả được đo bằng sản phẩm, kết quả và tác động cụ thể, thay vì chỉ đưa phần mềm, nền tảng vào sử dụng.
Ngành giáo dục được định hướng chuyển từ dữ liệu phân tán sang dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", từ các phần mềm riêng lẻ sang nền tảng có khả năng kết nối, liên thông. Các nhiệm vụ thực hiện theo nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.
Trách nhiệm chuyển đổi số được đặt trực tiếp lên người đứng đầu cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục. Cùng với đó là yêu cầu giảm thủ tục, hồ sơ, báo cáo, thao tác thủ công và thực hiện nguyên tắc "dữ liệu cập nhật một lần, sử dụng nhiều lần".
Trọng tâm trước mắt là rà soát, chuẩn hóa, làm sạch và cập nhật dữ liệu về cơ sở giáo dục, người học, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và dữ liệu chuyên ngành trên cơ sở dữ liệu ngành giáo dục.
Đợt rà soát, làm sạch dữ liệu phải hoàn thành trước ngày 30/10/2026 và sau đó được cập nhật thường xuyên, bảo đảm chính xác, đầy đủ, thống nhất.
Học bạ số được triển khai thống nhất. Dữ liệu được tạo lập từ dữ liệu gốc của cơ sở giáo dục, kiểm tra, phê duyệt, ký số rồi đồng bộ lên cơ sở dữ liệu của Bộ GD&ĐT. Đây là cơ sở để từng bước hình thành hồ sơ học tập số và hồ sơ học tập suốt đời.
Với dữ liệu văn bằng, chứng chỉ lịch sử của những người sinh từ năm 1970 trở lại đây, việc rà soát, số hóa và đồng bộ phải hoàn thành trước 30/11/2026.
Việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu được tăng cường để phục vụ quản lý, dự báo, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ trên môi trường số, đồng thời hạn chế tạo thêm đầu mối thu thập thông tin.
Dùng chung nền tảng, AI có kiểm soát
Nền tảng số quốc gia quản trị giáo dục và đào tạo sẽ được triển khai, thí điểm theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, gồm nền tảng quản trị cơ sở giáo dục và nền tảng phân tích, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành.
Các phần mềm, hệ thống thông tin đang sử dụng được rà soát để kết nối, tích hợp với nền tảng dùng chung theo tiêu chuẩn kỹ thuật.
Trong dạy học, các trường có thể tổ chức dạy trực tuyến, dạy học kết hợp theo quy định và điều kiện thực tế. Những nơi đủ điều kiện từng bước kiểm tra, đánh giá trên môi trường số, máy tính, bảo đảm công bằng, an toàn và bảo mật.
Học liệu số, ngân hàng câu hỏi, thư viện điện tử, thư viện số được phát triển, chuẩn hóa và chia sẻ. Các đơn vị phối hợp xây dựng Kho học liệu số dùng chung của ngành.
Ở bậc mầm non, công nghệ số chủ yếu phục vụ quản trị, phát triển chuyên môn giáo viên, thiết kế hoạt động giáo dục và phối hợp với gia đình. Việc sử dụng phải bảo đảm an toàn, quyền riêng tư và phù hợp đặc điểm phát triển của trẻ.
AI được khuyến khích sử dụng trong những lĩnh vực phù hợp, trước mắt theo hướng thí điểm. Giáo viên có thể dùng công nghệ này để chuẩn bị bài, xây dựng học liệu, thiết kế hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ người học.
Với cán bộ quản lý, AI có thể hỗ trợ tổng hợp, phân tích dữ liệu, dự báo, ra quyết định và thực hiện một số nhiệm vụ hành chính.
Tuy nhiên, kết quả do AI tạo ra phải được kiểm chứng. Công nghệ này không thay thế trách nhiệm chuyên môn và quyết định của nhà giáo, cán bộ quản lý.
Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát sẽ được thí điểm. Trước khi mở rộng, chất lượng, hiệu quả, mức độ an toàn và tác động đối với nhà giáo, người học được đánh giá.
Bộ GD&ĐT yêu cầu mỗi cơ sở giáo dục phải có quy định về sử dụng AI, xác định trường hợp được dùng, hạn chế hoặc không được dùng; trách nhiệm của người sử dụng và yêu cầu về an toàn dữ liệu, minh bạch, kiểm chứng, độ tin cậy của nội dung và liêm chính học thuật.
Hạ tầng số, Internet và thiết bị tại các cơ sở giáo dục tiếp tục được rà soát. Những địa bàn khó khăn, miền núi, hải đảo và điểm trường lẻ được ưu tiên khắc phục hạn chế về điện, kết nối và thiết bị.
Việc sử dụng hạ tầng, nền tảng, dịch vụ dùng chung, điện toán đám mây và thuê dịch vụ công nghệ thông tin được khuyến khích nếu phù hợp quy định, nhằm tiết kiệm và tăng khả năng mở rộng.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, yêu cầu về an toàn hệ thống thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân phải được bảo đảm. Các đơn vị cần thường xuyên kiểm tra, khắc phục lỗ hổng; hệ thống phải có phương án sao lưu, dự phòng, phục hồi dữ liệu và xử lý sự cố.
Cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên và người học được yêu cầu nâng cao kỹ năng về an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

