Bộ Tài chính nêu các nhóm giải pháp trọng tâm để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số
Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi nêu 5 nhóm giải pháp trọng tâm thực hiện để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 và những năm tiếp theo.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Ảnh: Đinh Nhung/Mekong ASEAN.
Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 12/2025, diễn ra chiều ngày 8/1, trả lời câu hỏi về nhận định khả năng chống chịu của nền kinh tế cũng như những giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, giai đoạn 2021–2025, bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước diễn biến hết sức phức tạp, khó khăn gia tăng, các yếu tố rủi ro xuất hiện dồn dập và khó lường. Đại dịch Covid-19 bùng phát đã gây ra những tác động nghiêm trọng, chưa từng có tiền lệ đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như toàn cầu.
Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược và xung đột địa chính trị giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, làm thay đổi sâu sắc trật tự kinh tế, thương mại quốc tế. Những biến động lớn trong thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là các chính sách thuế đối ứng của Chính phủ Hoa Kỳ tác động mạnh đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, một nền kinh tế có độ mở lớn.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ năng lực chống chịu vững vàng trước các cú sốc bên ngoài, vượt qua nhiều bất lợi và vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Việt Nam tiếp tục duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức BB+ và Ba2 với triển vọng ổn định theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody's. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận và đánh giá cao kết quả chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cũng như triển vọng tăng trưởng và khả năng nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam trong thời gian tới, theo Thứ trưởng.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới. Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng xếp Việt Nam vào 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật trong năm 2025.
"Những đánh giá tích cực từ các tổ chức tài chính và xếp hạng quốc tế uy tín cho thấy nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được giữ vững và ổn định. Đây chính là yếu tố then chốt, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước," Thứ trưởng Bộ Tài Chính nhận định.
Đại diện Bộ Tài chính tại cuộc họp báo cũng nêu 8 điểm nổi bật cụ thể của nền kinh tế Việt Nam:
Thứ nhất, tăng trưởng Việt Nam đạt mức cao, bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,3%, cao hơn so với 5 năm trước. Nếu không tính năm 2021 phải chịu tác động mạnh của dịch Covid-19, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022-2025 sẽ đạt 7,13%, cao hơn mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Kể cả trong những thời điểm phải đối mặt với nhiều khó khăn do chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, tăng trưởng năm 2025 vẫn đạt ở mức 8,02%, là mức tăng trưởng dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao nhất thế giới.
Thứ hai, thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại hối phát triển cơ bản ổn định. CPI bình quân cả giai đoạn 2021-2025 duy trì ở mức dưới 4%. Cung cầu hàng hóa được bảo đảm, giá cơ bản ổn định. Nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35 - 36% GDP vào năm 2025.
Thứ ba, thu ngân sách Nhà nước 5 năm đạt gần 9,88 triệu tỷ đồng, vượt 18,1% so với mục tiêu, gấp gần 1,4 lần so với giai đoạn trước, vượt xa mục tiêu 8,3 triệu tỷ đồng, trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí khoảng 1,1 triệu tỷ đồng.
Thứ tư, thị trường trong và ngoài nước tiếp tục phát triển. Xuất nhập khẩu tiếp tục đạt kỷ lục, vượt mọi dự đoán. Quy mô thương mại tăng nhanh từ 545 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD vào năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Các chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu được đa dạng hóa.
Việt Nam hiện có quan hệ thương mại với hơn 230 nền kinh tế và 34 thị trường xuất khẩu, 24 thị trường nhập khẩu có giá trị trên 1 tỷ USD. Về thị trường trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng hơn 9% so với năm 2024. Du lịch phục hồi, năm 2025 đón khoảng 21,1 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước tới nay.
Thứ năm, các thị trường tiếp tục phát triển theo hướng ổn định, bền vững, hiện đại và hội nhập. Thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại tệ cơ bản ổn định. Thị trường chứng khoán được tổ chức FTSE nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam được thành lập và sẽ đưa vào hoạt động từ cuối năm 2025.
Thứ sáu, năng lực nội tại của nền kinh tế được nâng cao, phát triển kinh tế tư nhân đạt nhiều kết quả tích cực. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế pháp luật, cắt giảm đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động năm 2025 đạt gần 297.500 doanh nghiệp, cao nhất từ trước tới nay, tăng 27,4% so với năm 2024. Hiện nay cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 160.000 doanh nghiệp so với năm 2024, tăng trên 20% so với năm 2020.
Thứ bảy, đầu tư tiếp tục được thúc đẩy, thu hút ngày càng nhiều khu vực kinh tế tư nhân tham gia phát triển kinh tế hạ tầng xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm tăng 44% so với giai đoạn trước, tương đương khoảng 33,2% GDP. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài cả nhiệm kỳ đạt 184,2 tỷ USD, tăng gần 8,4% so với nhiệm kỳ trước, thuộc 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất.
Thứ tám, cung cầu lao động được đảm bảo, chất lượng lao động được cải thiện, thu nhập người dân được tăng lên. Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực. Tỷ lệ lao động nông nghiệp năm 2025 giảm xuống còn 24,7% và tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có văn bằng chứng chỉ tăng lên 29,2%.
Về các nhóm giải pháp được thực hiện để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 và những năm tiếp theo, Thứ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng, thực thi pháp luật nhằm kiến tạo và phát triển, giải quyết các cái điểm nghẽn về thể chế và xây dựng thể chế để tạo động lực, thể chế và kiến tạo, tức là chuyển từ quản lý sang kiến tạo để thúc đẩy.
Huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Sử dụng nguồn lực đầu tư công có hiệu quả, giữ vững vai trò dẫn dắt; nâng cao chất lượng hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài; phát triển đồng bộ các loại thị trường, nhất là thị trường vốn, thị trường tài chính nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, tái cấu trúc các kênh huy động vốn và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đặc biệt là trong các khu vực sản xuất.
Đồng thời, chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy vai trò động lực của công nghiệp chế biến, chế tạo. Chuyển dịch sang nền kinh tế dựa vào cả đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực then chốt, các dự án lớn, các chuỗi giá trị trong và trong nước và toàn cầu theo đúng tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
Cùng với đó, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhất là hạ tầng chiến lược để làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh mới, đại diện Bộ Tài chính nêu.














