Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn hội đàm với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, ngày 28/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn có cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas.

Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi hội đàm. (Ảnh: BTC)
Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm tương đồng trong phát triển kinh tế
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas bày tỏ vui mừng khi cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Thái Lan đang phát triển rất tích cực, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp lên Đối tác Chiến lược toàn diện năm 2025 và đang xây dựng Chương trình hành động giai đoạn 2026-2031. Năm 2026 cũng là năm Việt Nam và Thái Lan cùng kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (6/8/1976-6/8/2026).
Tại hội đàm, hai bên trao đổi thông tin về tình hình kinh tế vĩ mô, định hướng điều hành chính sách tài khóa, về cải cách bộ máy, đầu tư công, thu hút FDI và hợp tác kinh tế song phương.
Chia sẻ về tình hình kinh tế-xã hội của Việt Nam, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách bộ máy, tinh gọn đầu mối và xây dựng hệ thống thuế hiệu quả hơn. Việt Nam cũng đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo, do đó cần huy động nguồn lực đầu tư lớn, trong đó tổng đầu tư toàn xã hội dự kiến khoảng 40% GDP, còn đầu tư công chiếm khoảng 20-22% tổng mức đầu tư.
Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam thời gian qua chịu tác động từ biến động địa chính trị và xung đột tại Trung Đông, tăng trưởng quý I/2026 giảm còn khoảng 7,8%, vì vậy các quý còn lại phải tăng trưởng cao hơn để đạt mục tiêu khoảng 9% cả năm. Bộ trưởng nhận định, quy mô kinh tế Việt Nam hiện đã tiệm cận Thái Lan, với GDP năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD, trong khi Thái Lan khoảng 570 tỷ USD.
Cũng theo Bộ trưởng, Việt Nam và Thái Lan là những nền kinh tế mở, thu hút mạnh mẽ đầu tư FDI, vì vậy vấn đề an ninh năng lượng có vai trò then chốt trong phát triển kinh tế. Theo tính toán của Việt Nam, nếu giá dầu tăng 10 USD/thùng thì lạm phát có thể tăng khoảng 0,5% và tăng trưởng GDP giảm khoảng 0,4%. Việt Nam hiện đang hỗ trợ người dân thông qua Quỹ bình ổn giá xăng dầu, đồng thời giảm nhiều loại thuế liên quan đến xăng dầu xuống mức thấp để hạn chế tác động tới nền kinh tế. Trong dài hạn, Việt Nam sẽ nghiên cứu cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho người thu nhập thấp và thúc đẩy tiết kiệm năng lượng.
Bộ trưởng cho biết Việt Nam hiện tự chủ khoảng 70% nguồn cung xăng dầu, phần còn lại nhập khẩu từ nhiều nguồn, trong đó Kuwait là đối tác quan trọng do phù hợp với công nghệ lọc dầu của hai nhà máy lọc dầu lớn là Dung Quất và Nghi Sơn.
Trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, Bộ trưởng đánh giá Việt Nam và Thái Lan vừa cạnh tranh vừa có thể hợp tác trong xuất khẩu nông sản, đặc biệt là sầu riêng và gạo. Bộ trưởng đề xuất hai nước tăng cường phối hợp để cùng khai thác hiệu quả các thị trường xuất khẩu.
Về thu hút đầu tư, Bộ trưởng cho biết Việt Nam hiện ưu tiên các lĩnh vực điện năng và công nghiệp chế biến, chế tạo; đồng thời đánh giá cao sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp lớn của Thái Lan tại Việt Nam. Bộ trưởng cũng cho rằng ASEAN cần liên kết sâu hơn trong chuỗi cung ứng, mỗi nước tham gia ở những công đoạn phù hợp với thế mạnh riêng, ví dụ Việt Nam phát triển xe điện còn Thái Lan có thế mạnh về chế biến, chế tạo.
Liên quan đến công nghiệp hỗ trợ, Bộ trưởng cho biết Thái Lan hiện có hệ sinh thái doanh nghiệp cung ứng rất phát triển với khoảng 3.000 doanh nghiệp, trong khi Việt Nam mới ở giai đoạn đầu phát triển lĩnh vực này.
Bộ trưởng cũng chia sẻ Việt Nam đang xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia, đồng thời hoàn thiện các quy định liên quan đến lưu trữ dữ liệu và triển khai Thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) theo hướng vừa bảo đảm tuân thủ cam kết quốc tế, vừa duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Tăng cường kết nối để phát huy sức mạnh chung của ASEAN
Về phía Thái Lan, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas chia sẻ kinh nghiệm trong đánh giá đầu tư công. Ông cho biết Thái Lan sử dụng chỉ số “Economic Internal Rate of Return” (EIRR - tỷ suất hoàn vốn kinh tế nội tại) để đánh giá hiệu quả dự án, thay vì chỉ nhìn vào hiệu quả tài chính hay lãi suất đơn thuần.

Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trao quà lưu niệm tới Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Ekniti Nitithanprapas. (Ảnh: BTC)
Phía Thái Lan cũng chia sẻ kinh nghiệm cải cách ưu đãi thuế để thích ứng với Thuế tối thiểu toàn cầu thông qua cơ chế “qualified tax credits”, hiện đang được sửa đổi trong luật pháp của nước này.
Trong lĩnh vực công nghiệp, phía Thái Lan cho biết nhiều tập đoàn Nhật Bản và Trung Quốc đang đặt cơ sở sản xuất đồ gia dụng tại Thái Lan, với các thương hiệu như Toshiba, Midea… Đồng thời, các doanh nghiệp Thái Lan hiện cũng tham gia cung cấp linh kiện, phụ tùng cho VinFast của Việt Nam.
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Thái Lan nhận định xu hướng dịch chuyển FDI về Đông Nam Á đang gia tăng do bất ổn tại Trung Đông, và đây là cơ hội lớn cho các nền kinh tế ASEAN như Việt Nam, Thái Lan và Singapore. Phía Thái Lan cũng đánh giá cao việc Việt Nam thu hút Samsung đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn và cho rằng ASEAN cần tăng cường liên kết chuỗi cung ứng để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Kết thúc buổi trao đổi, hai bên cùng thống nhất quan điểm cần thúc đẩy không chỉ hợp tác mà còn tạo ra sự kết nối thực chất giữa hai nền kinh tế trong thời gian tới. Hai nước nên cùng nhau phát huy thế mạnh để tạo sức mạnh chung của các nước ASEAN trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Việt Nam và Thái Lan không chỉ có nhiều sự tương thích về khí hậu, môi trường mà còn nhiều điểm tương đồng trong phát triển kinh tế.
+ Việt Nam và Thái Lan đều là các nền kinh tế có độ mở thương mại cao và phụ thuộc mạnh vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước đạt khoảng 910 tỷ USD, tương đương gần 177% GDP; trong khi Thái Lan tiếp tục duy trì vị thế trung tâm sản xuất-logistics lớn của khu vực với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại hàng hóa khoảng trên 600 tỷ USD, tương đương khoảng 110%-120% GDP. Điều này cho thấy cả hai nước đều theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo và thu hút FDI.
+ Việt Nam-Thái Lan có quan hệ hợp tác thương mại-đầu tư phát triển mạnh mẽ. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 22,1 tỷ USD; Thái Lan tiếp tục là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam với hàng trăm dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 14,9-15,4 tỷ USD.
+ Thái Lan duy trì quy mô đầu tư công ở mức khoảng 20-30 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5-7% GDP, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng giao thông, logistics, quản lý nước và phát triển đô thị với trọng tâm là các dự án đường cao tốc liên vùng, đường sắt đôi, cảng biển và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tốc độ tăng đầu tư công tương đối ổn định, thiên về tối ưu hóa hiệu quả phân bổ hơn là mở rộng quy mô mạnh.
+ Thái Lan duy trì quy mô đầu tư công ở mức khoảng 20-30 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5-7% GDP, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng giao thông, logistics, quản lý nước và phát triển đô thị với trọng tâm là các dự án đường cao tốc liên vùng, đường sắt đôi, cảng biển và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tốc độ tăng đầu tư công tương đối ổn định, thiên về tối ưu hóa hiệu quả phân bổ hơn là mở rộng quy mô mạnh.
+ Việt Nam hiện có mức đầu tư đạt khoảng 5,5-6% GDP, thuộc nhóm cao nhất ASEAN. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm đầu tư công giai đoạn gần đây vào khoảng 33% GDP, trong đó Nhà nước định hướng tập trung mạnh vào các dự án hạ tầng quy mô lớn, kết nối liên vùng và có sức lan tỏa mạnh mẽ.











