Bộ Xây dựng thiết lập Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch, thoát nước đô thị
Thông tư 69/2026/TT-BXD quy định thống nhất cấu trúc, nội dung, vận hành và quản lý Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị trên phạm vi toàn quốc.
11 nhóm dữ liệu chính
Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư 69/2026/TT-BXD quy định về Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị. Thông tư quy định toàn diện về cấu trúc, nội dung, vận hành và quản lý dữ liệu chuyên ngành trên phạm vi toàn quốc.

Thông tư 69/2026/TT-BXD áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến việc xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin cấp nước sạch và thoát nước đô thị. Nguồn ảnh: Công ty Cấp nước sạch Hà Nội.
Thông tư 69/2026/TT-BXD có hiệu lực thi hành từ ngày 1/11/2026. Theo đó, Hệ thống thông tin cấp nước sạch và thoát nước đô thị do Bộ Xây dựng xây dựng, quản lý thống nhất trên toàn quốc. Hệ thống gồm phần cứng, phần mềm, hệ quản trị cơ sở dữ liệu và các thành phần kỹ thuật để tạo lập, thu thập, cập nhật, lưu trữ, xử lý, quản lý, duy trì, kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng và bảo vệ Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị.
Cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị là cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, gồm dữ liệu số được tổ chức, lưu trữ và quản lý có hệ thống về cấp nước sạch; thoát nước đô thị; xử lý nước thải, bùn thải thuộc hệ thống thoát nước đô thị, cùng các tài liệu làm căn cứ và chỉ số quản lý liên quan.
Dữ liệu được tổ chức thành 11 nhóm chính gồm: Dữ liệu quản lý hành chính, địa bàn, tổ chức, đơn vị cấp nước, thoát nước, phạm vi phục vụ, dân số và đấu nối; dữ liệu tham chiếu quy hoạch cấp, thoát nước; dữ liệu cấp nước sạch từ nguồn nước, công trình thu, nhà máy nước đến mạng lưới truyền tải và phân phối.
Dữ liệu về chất lượng nước sạch sinh hoạt, kết quả nội kiểm, chất lượng dịch vụ, sự cố, giá nước và giám sát trực tuyến; dữ liệu về chủ sở hữu, đơn vị thoát nước, hợp đồng vận hành, phạm vi cung ứng và giá dịch vụ thoát nước.
Cơ sở dữ liệu cũng bao gồm dữ liệu thoát nước, xử lý nước thải tập trung và phi tập trung, nước thải sau xử lý, tái sử dụng; dữ liệu thoát nước mưa, công trình điều hòa, điểm ngập, giám sát ngập và công tác duy trì; dữ liệu thu gom, vận chuyển, xử lý, tái sử dụng bùn thải.
Ngoài ra còn có dữ liệu, tài liệu điện tử làm căn cứ; dữ liệu tổng hợp, chỉ số quản lý, báo cáo; dữ liệu danh mục dùng chung, dữ liệu chủ chuyên ngành và siêu dữ liệu.
Quản lý theo nguyên tắc "lấy dữ liệu làm trung tâm"
Thông tư đặt ra nguyên tắc "lấy dữ liệu làm trung tâm". Theo đó, dữ liệu được tạo lập, thu thập một lần từ nguồn do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý, sau đó kế thừa và sử dụng nhiều lần. Hệ thống ưu tiên khai thác dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống nguồn chuyên ngành.

Dữ liệu của Cơ sở dữ liệu gồm dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc. Dữ liệu có cấu trúc bao gồm dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính và dữ liệu liên kết giữa các đối tượng. Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu phải được mô tả bằng siêu dữ liệu. Nguồn ảnh: Công ty Cấp nước sạch Hà Nội.
Mỗi đối tượng quản lý cốt lõi khi được tạo lập lần đầu trên hệ thống phải được gắn một mã định danh chuyên ngành duy nhất. Các đối tượng bắt buộc cấp mã gồm đơn vị cấp, thoát nước; nhà máy nước; công trình thu nước; trạm bơm; đài nước; nhà máy, trạm xử lý nước thải; công trình điều hòa nước mưa; điểm xả; cơ sở xử lý bùn thải; trạm giám sát trực tuyến độc lập...
Mã định danh phải ổn định và không được tái sử dụng cho đối tượng khác, kể cả khi đối tượng chấm dứt hoạt động hoặc hợp nhất.
Về chất lượng, dữ liệu phải bảo đảm tính chính xác, hợp lệ, toàn vẹn, đầy đủ, cập nhật kịp thời và nhất quán. Dữ liệu đáp ứng yêu cầu chất lượng hoặc được kế thừa từ Hệ thống nguồn sẽ được tái sử dụng trong quản lý Nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực hiện chế độ báo cáo, không yêu cầu cung cấp lại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cơ sở dữ liệu không thu thập dữ liệu định danh của khách hàng sử dụng nước là cá nhân, hộ gia đình, trừ trường hợp pháp luật có quy định riêng.
Cập nhật dữ liệu theo thời hạn cụ thể
Thông tư 69/2026/TT-BXD quy định 4 phương thức cập nhật dữ liệu, gồm nhập trực tuyến theo biểu mẫu điện tử; kết nối đồng bộ tự động qua API/nền tảng chia sẻ dữ liệu; cập nhật theo lô bằng gói dữ liệu có cấu trúc; tiếp nhận trực tiếp từ thiết bị đo, cảm biến, hệ thống giám sát điều khiển.

Thông tư cũng quy định thời hạn cập nhật dữ liệu định kỳ.
Thời hạn cập nhật dữ liệu định kỳ cũng được quy định cụ thể. Với dữ liệu tháng, thời hạn cập nhật chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ khi kết thúc tháng; dữ liệu quý là 15 ngày làm việc kể từ khi kết thúc quý; dữ liệu năm là 30 ngày làm việc kể từ khi kết thúc năm. Dữ liệu phát sinh khi tạo lập hoặc thay đổi phải được cập nhật trong vòng 5 ngày làm việc.
Tất cả người sử dụng truy cập hệ thống phải xác thực qua tài khoản định danh điện tử. Quyền truy cập được phân cấp theo vai trò và phạm vi dữ liệu, dựa trên nguyên tắc quyền tối thiểu cần thiết.
Dữ liệu chi tiết về mạng lưới cấp thoát nước chính, tọa độ công trình quan trọng, phương án bảo vệ, cấu hình điều khiển, tài khoản hệ thống, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh... thuộc nhóm hạn chế khai thác và chỉ được truy cập theo đúng thẩm quyền, phạm vi được phân quyền.
Phân rõ trách nhiệm, triển khai theo ba mốc
Theo Thông tư 69/2026/TT-BXD, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng là đầu mối quản lý nghiệp vụ, nội dung dữ liệu; Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Bộ chịu trách nhiệm quản lý, vận hành kỹ thuật hạ tầng, bảo đảm an ninh mạng và kết nối hệ thống.
Tại địa phương, UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng làm đầu mối quản lý dữ liệu, trực tiếp rà soát và ghi nhận trạng thái chất lượng dữ liệu. UBND cấp xã có trách nhiệm tạo lập, cập nhật dữ liệu phản ánh, kiến nghị do mình tiếp nhận và phối hợp đối chiếu địa bàn, điểm ngập.
Các đơn vị cấp nước, thoát nước có trách nhiệm trực tiếp tạo lập, cập nhật, bảo vệ dữ liệu kỹ thuật, vận hành do mình quản lý.
Lộ trình thực hiện thông tư được phân kỳ theo ba mốc. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày 1/11/2026, UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng rà soát, lập danh sách và kế hoạch chuẩn hóa các đối tượng quản lý cốt lõi bắt buộc phải có mã định danh chuyên ngành.
Trong thời hạn 12 tháng, hoàn thành cập nhật dữ liệu nền tảng ưu tiên về định danh, vị trí, quy mô, công suất, tình trạng hoạt động, phạm vi phục vụ và hồ sơ pháp lý tối thiểu.
Trong thời hạn 24 tháng, hoàn thành cập nhật các trường dữ liệu đã có nguồn hợp pháp và đủ điều kiện kỹ thuật; đồng thời rà soát, chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu đã được tạo lập trước ngày thông tư có hiệu lực.
