Các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp được quy định tại Điều 8 Nghị định 374/2025.
Từ 1-1-2026, người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng không nhận tiền trợ cấp. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong trường hợp chưa hoặc không thực hiện thủ tục nhận trợ cấp theo quy định.
Cũng từ thời điểm trên, các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định cụ thể, chi tiết hơn tại Nghị định số 374/2025 của Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xác định, quản lý và giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong thực tiễn.

Các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026. Ảnh minh họa: THUẬN VĂN
Theo Điều 8 Nghị định 374/2025, người lao động được bảo lưu thời gian đóng BHTN trong các trường hợp sau:
- Đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng còn thời gian đóng BHTN chưa được giải quyết hưởng, với điều kiện tổng thời gian đã đóng trên 36 tháng đến đủ 144 tháng; phần thời gian chưa giải quyết hưởng này được bảo lưu để tính cho lần hưởng tiếp theo. Trường hợp đã đóng trên 144 tháng thì phần chưa giải quyết hưởng không được bảo lưu.
- Bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; khi đó, toàn bộ thời gian đã đóng BHTN chưa hưởng được bảo lưu.
- Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng thuộc các trường hợp pháp luật cho phép bảo lưu; phần thời gian chưa hưởng tiếp tục được bảo lưu.
- Không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản; số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền được bảo lưu.
- Được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng BHTN sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp; Nghị định quy định cách tính cụ thể để xác định số tháng được bảo lưu, đặc biệt trong trường hợp lần hưởng sau cùng có thời gian đóng dưới 36 tháng.
Theo quy định hiện nay, mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 12 tháng đã đóng BHTN; thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần thời gian còn được bảo lưu.
So với quy định hiện nay, Nghị định 28/2015 trước đây không đặt ra giới hạn tối đa về thời gian được bảo lưu, không liệt kê đầy đủ từng tình huống cụ thể và không có công thức tính trong trường hợp phát sinh thời gian đóng bổ sung.
Từ 1-1-2026, quy định mới đã chuẩn hóa toàn bộ các trường hợp được bảo lưu, bổ sung mốc 144 tháng, đồng thời làm rõ từng tình huống và cách tính.











