Cái giá của tự chủ công nghệ

Không có con đường phát triển nào miễn phí. Nói ra cái giá không làm nó lớn thêm, chỉ làm chúng ta chuẩn bị tốt hơn để trả.

Ngày 16/1/2026, nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên của Việt Nam khởi công tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Trước đó, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến 2030 dành ít nhất 3% ngân sách hằng năm cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, đưa chi nghiên cứu và phát triển lên 2% GDP - từng bước tự chủ công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược.

Đó là quyết định lớn, đúng đắn, nhưng mọi quyết định lớn đều có một mặt ít được nói tới: cái giá phải trả. Một chủ trương đúng vẫn có thể thất bại nếu thực hiện như khẩu hiệu, chỉ nói đích đến mà không nói hóa đơn.

3 loại chi phí của một con đường đúng

Tự chủ công nghệ có ít nhất 3 loại chi phí, cả 3 đều có thật.

Thứ nhất là chi phí trực tiếp: vốn đầu tư, trợ cấp, ưu đãi thuế, đất đai, hạ tầng, đào tạo - dễ nhìn thấy và dễ được chấp nhận nhất.

Thứ hai là chi phí cơ hội. Mỗi đồng ngân sách dành cho công nghệ lõi là một đồng không dành cho một bệnh viện tuyến huyện, một trường học vùng cao, một cây cầu ở đồng bằng - nguồn thu hữu hạn, nên mọi ưu tiên đồng thời là một sự từ chối ở nơi khác.

Thứ ba, ít được nói nhất: chi phí của sai lầm. Không quốc gia nào chọn đúng mọi lĩnh vực chiến lược ngay từ đầu - xác suất chọn sai là thuộc tính tất yếu của việc đi vào lĩnh vực mình chưa từng đi.

Nghị quyết 57 đã nhìn thấy điều đó: “Chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Câu ngắn nhưng nặng ký: thừa nhận thất bại là một phần của quá trình, không phải khuyết điểm cần che giấu. Vấn đề khó nhất còn lại: biến nó thành cơ chế vận hành hằng ngày.

Những hóa đơn của thế giới

Không ít quốc gia đã trả những hóa đơn ấy trước chúng ta. Nhìn kỹ từng trường hợp sẽ thấy: cái giá không đến từ chọn sai ngành, mà từ cách tổ chức thực hiện.

Brazil: bảo hộ mà không sinh ra năng lực

Từ 1984, Brazil dành riêng thị trường tin học cho doanh nghiệp nội địa, hạn chế máy tính nhập khẩu. Theo Luzio và Greenstein (1995), trình độ công nghệ trong nước tụt sau thế giới 3 đến 5 năm, thiệt hại người mua lên gần 20% chi tiêu máy tính. Chính sách chấm dứt năm 1992 mà không để lại doanh nghiệp nội địa nào đủ sức cạnh tranh: bảo hộ tạo ra thị trường, không tạo ra năng lực.

Nhật Bản: chọn đúng lĩnh vực, sai hướng đi

Dự án máy tính thế hệ thứ 5 do MITI khởi động năm 1982, đầu tư khoảng 54 tỷ yên trong 11 năm để đưa Nhật đi trước thế giới một thế hệ về AI, đã thất bại thương mại vì tự đóng kín, không hấp thụ được đổi mới bên ngoài - giao diện đồ họa, Internet, dữ liệu phân tán. Năm 1961, MITI từng suýt cấm các hãng ô tô mới gia nhập thị trường; nếu thông qua, ngành ô tô Nhật hôm nay có thể đã thiếu Honda. Bài học: nhà nước cũng có thể chọn nhầm như thị trường - và khi nhà nước chọn nhầm, hậu quả lớn hơn, vì khóa cả một ngành.

Trung Quốc: quy mô lớn không miễn nhiễm với thất bại

“Đại quỹ” đầu tư mạch tích hợp của Trung Quốc huy động khoảng 21,8 tỷ USD (năm 2014), 29 tỷ USD (năm 2019), 47,5 tỷ USD (năm 2024), nhưng năm 2022, hàng loạt lãnh đạo quỹ bị điều tra, Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ thông tin bị khai trừ Đảng vì nhận hối lộ. Dự án Hoằng Tâm ở Vũ Hán công bố đầu tư 128 tỷ nhân dân tệ rồi sa thải toàn bộ nhân viên đầu năm 2021 mà chưa sản xuất được một con chip. Nguồn lực khổng lồ không thay thế được kỷ luật quản trị.

Mỹ và châu Âu: không phải căn bệnh của nước nghèo

Đạo luật CHIPS của Mỹ (năm 2022) dành 52,7 tỷ USD cho ngành bán dẫn; nhà máy 28 tỷ USD của Intel tại Ohio bị lùi từ năm 2025 sang 2030-2031. Tại Đức, dự án 30 tỷ euro của Intel ở Magdeburg - trợ cấp 10 tỷ euro - bị hủy bỏ hoàn toàn vào tháng 7/2025. Tòa Kiểm toán châu Âu, tháng 4/2025, kết luận EU sẽ không đạt mục tiêu 20% sản lượng chip toàn cầu vào 2030; dự phóng thực tế chỉ khoảng 11,7%.

Hàn Quốc: thành công, nhưng có hóa đơn

Chương trình công nghiệp nặng và hóa chất 1973-1979 thường được nhắc như hình mẫu thành công. Ít được nhắc: lạm phát tăng từ 14,4% lên 28,7% năm 1980; nợ nước ngoài lên 32,4 tỷ USD, bằng 49% GDP năm 1981. Nghiên cứu NBER (năm 2021): nguồn lực chảy về các tập đoàn lớn không tương quan với năng suất - nếu không phân bổ sai, năng suất các ngành ưu tiên đã có thể cao hơn khoảng 40%. Song, một nghiên cứu NBER khác cho thấy doanh nghiệp được trợ cấp cũng tăng doanh thu cao hơn khoảng 8,6% mỗi năm, kéo dài gần 3 thập kỷ. Hàn Quốc đã thành công, nhưng có hóa đơn, và họ đã trả nó có ý thức, rồi chủ động chuyển hướng khi cái giá vượt sức chịu đựng.

Những khoản Việt Nam đã trả

Chúng ta cũng có hóa đơn của mình, và nhìn thẳng vào chúng là cách duy nhất để không trả lại lần nữa.

Chiến lược phát triển ngành ô tô (năm 2002) đặt mục tiêu nội địa hóa xe thông dụng trên 80% vào năm 2010, kèm hơn 20 năm ưu đãi thuế, đầu tư, hàng rào thuế quan. Đến nay, tỷ lệ nội địa hóa xe dưới 9 chỗ vẫn ở mức 7-10%; chương trình phê duyệt năm 2026 đặt lại mục tiêu chỉ còn 22-30% cho năm 2030. Hạ mục tiêu không đáng chê trách, mà là một sự trung thực cần thiết; đáng suy nghĩ là vì sao phải mất hơn 20 năm mới tới được đó.

Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam là một khoản khác: kỳ vọng thành cường quốc đóng tàu, nhưng ôm khoản nợ trên 86.000 tỷ đồng cuối năm 2009, bằng khoảng 80% tổng tài sản. Phải đến quý I-2024, công ty mẹ cùng 7 công ty con mới chính thức phá sản - 14 năm từ lúc vấn đề bộc lộ.

Điểm chung của hai trường hợp trên không phải chọn sai ngành - ô tô, đóng tàu đều là lựa chọn hợp lý với một quốc gia bờ biển dài, dân số lớn - mà là: không có cơ chế để dừng lại. Ưu đãi cứ tiếp tục, mục tiêu cứ treo đó, cái giá cứ âm thầm cộng dồn.

Cái giá đắt nhất là cái giá của việc không biết dừng

Nhà kinh tế học Dani Rodrik gói vấn đề vào một câu: “Điều khó đối với nhà nước không phải là chọn ra người thắng cuộc, mà là biết khi nào mình đang cầm trong tay một kẻ thua”.

Ông đề xuất: tiêu chí thành bại là tăng trưởng năng suất, không phải việc làm hay sản lượng; mọi ưu đãi phải có điều khoản hoàng hôn, muốn kéo dài phải chứng minh lại; trợ cấp phải kèm cả củ cà rốt lẫn cây gậy; và sai lầm phải được chấp nhận - mục tiêu là giảm chi phí mỗi lần thất bại, không phải triệt tiêu thử nghiệm.

Nhà xã hội học Peter Evans gọi điều kiện thành công là “tự chủ gắn kết”: bộ máy vừa có năng lực, kỷ luật nội bộ vững, vừa gắn chặt với doanh nghiệp để nắm thực tế mà không bị thao túng. Thiếu vế đầu, nhà nước không đủ sức làm; thiếu vế sau, làm mà không biết mình đang làm gì; có vế sau mà mất vế đầu, chính sách công biến thành đặc quyền tư.

Việt Nam vừa đi được một bước quan trọng: Nghị quyết 193/2025/QH15 (ngày 19/2/2025) lần đầu miễn trách nhiệm dân sự cho người nghiên cứu khoa học nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình mà kết quả không đạt như dự kiến; Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (ngày 1/10/2025) mở rộng miễn trách nhiệm cho cả người phê duyệt, người quản lý. Nhà nước đã chính thức thừa nhận nghiên cứu có thể thất bại, và thất bại trung thực không phải là tội.

Nhưng, luật cho phép thất bại vẫn chưa đủ nếu thói quen chưa cho phép: quy định tài chính, kiểm toán vẫn nghiêng về kiểm đếm tuân thủ máy móc, khiến nhà khoa học còn e ngại. Khoảng cách ấy - giữa điều luật cho phép và điều bộ máy dám làm - cũng là một phần của cái giá, và là phần có thể rút ngắn nhanh nhất nếu quyết tâm đủ lớn.

Ngân sách và cơ hội bị bỏ lỡ

Còn một chi phí chạm tới bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa: mọi đồng ngân sách đều là tiền của Nhân dân, đều có công dụng khác đang chờ.

Dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 có tổng chi khoảng 3.159.000 tỷ đồng, kèm yêu cầu tối thiểu 3% cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nhưng, thực tế, tỷ lệ chi mới ở mức 1,01% năm 2022 và 0,82% năm 2023; đến 2025 mới bố trí được khoảng 2%. Đi từ 0,82% lên 3% là tăng gần 4 lần trong thời gian rất ngắn - đến từ dư địa tài khóa, tăng thu, và một phần từ những khoản chi khác cũng phục vụ đời sống Nhân dân.

Đây không phải lý do để không tăng - ngược lại, chính vì đắt nên mỗi đồng càng phải tiêu đúng: một đồng lãng phí trong khoa học - công nghệ không chỉ mất giá trị của chính nó, mà còn bào mòn tính chính đáng của việc tiếp tục đầu tư, tổn thất lớn nhất vì có thể làm đứt gãy cả một chủ trương đúng. Trong bài “Chống lãng phí” (tháng 10/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm đặt lãng phí ngang tầm một nguy cơ cần xử lý quyết liệt. Chống lãng phí trong khoa học - công nghệ, vì vậy, không chỉ là không tiêu sai, mà còn là biết dừng đúng lúc.

Độc lập, ở nghĩa sâu xa nhất, là quyền được lựa chọn con đường của mình. Tự chủ công nghệ là con đường mở rộng quyền ấy, nhưng chính vì đúng, nó càng cần được đi bằng sự tỉnh táo, không phải bằng sự say sưa.

Tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng ta xác lập tại Đại hội VI (1986) chính là điều đã mở ra công cuộc Đổi mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: một đảng giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Nói ra cái giá của một chủ trương đúng, vì vậy, không phải là hoài nghi nó, mà là cách bảo vệ nó khỏi kỳ vọng không thực tế, khỏi những dự án không ai dám dừng, khỏi sự mỏi mệt khi kết quả không đến như đã hứa.

Nhà máy chip đầu tiên đã khởi công. Đó là ngày bắt đầu, không phải ngày về đích. Phía trước sẽ có nguy cơ những dự án chậm tiến độ, những đề tài không ra kết quả - điều bình thường ở mọi quốc gia đã đi con đường này, kể cả những nước giàu nhất. Không bình thường, là khi chúng ta không dám gọi tên chúng.

Một nền khoa học chỉ trưởng thành khi dám công bố cả những gì đã thất bại. Một quốc gia chỉ thực sự làm chủ công nghệ khi đủ bản lĩnh để vừa dám bắt đầu, vừa dám dừng lại.

Trung tướng Trần Bá Thiều

Nguồn CAND: https://cand.vn/cai-gia-cua-tu-chu-cong-nghe-post823112.html