'Cần đưa IELTS về đúng vị trí'

Chuyên gia cho rằng khi coi chứng chỉ ngoại ngữ là một công cụ để cạnh tranh, để 'thi đấu' giành vé vào đại học, đương nhiên sẽ có rất nhiều hình thức nhằm đối phó với luật thi. Điều này cũng làm mất đi tinh thần cốt lõi của học ngoại ngữ là để giao tiếp, làm việc, giao lưu và hội nhập.

Những ngày gần đây thông tin Bộ GD-ĐT sẽ “siết” chứng chỉ IELTS, giảm điểm cộng khi xét tuyển đại học với những thí sinh có chứng chỉ này đang nhận được nhiều chú ý từ dư luận. Thông tin này được đưa ra sau một thời gian dài chứng chỉ IELTS như một “tấm vé đảm bảo” cho thí sinh vào đại học, thậm chí là các ngành “hot”.

Chuyên gia giáo dục Ngô Huy Tâm - Nguyên Chủ nhiệm Chương trình Quốc tế Trường Phổ thông liên cấp Phenikaa đã có chia sẻ cùng VOV.VN về nội dung liên quan đến vấn đề này.

Chuyên gia giáo dục Ngô Huy Tâm - Nguyên Chủ nhiệm Chương trình Quốc tế Trường Phổ thông liên cấp Phenikaa

Chuyên gia giáo dục Ngô Huy Tâm - Nguyên Chủ nhiệm Chương trình Quốc tế Trường Phổ thông liên cấp Phenikaa

PV: Thưa ông, mới đây Bộ GD-ĐT cho biết, dự kiến năm 2026 sẽ giảm điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS trong xét tuyển đại học, ông có bình luận gì về nội dung này?

Ông Ngô Huy Tâm: Đến nay Việt Nam là quốc gia duy nhất đưa điều kiện có chứng chỉ ngoại ngữ vào cộng điểm trong tuyển sinh. Điều này xuất phát từ việc khoảng 10 năm trước chúng ta xác định muốn lan tỏa tiếng Anh, đẩy mạnh việc học ngoại ngữ. Khi đó các trường nhận thấy mối tương quan rất rõ giữa học sinh có chứng chỉ IELTS với những em có điểm số tốt và chăm chỉ trong học tập. Bởi vậy, không chỉ đại học mà ngay từ cấp 3, nhiều trường cũng đã sử dụng IELTS để lựa chọn thí sinh.

Sau một thời gian, số lượng các trường đại học đưa chứng chỉ IELTS vào làm tiêu chí xét tuyển ngày càng nhiều, thậm chí có thể nói là sự “bùng nổ của IELTS” trong tuyển sinh.

Tuy nhiên, sự bùng nổ ấy cũng đang tạo ra những bất công rất lớn trong việc tiếp cận giáo dục đại học, nhất là những học sinh không có đủ điều kiện học và thi chứng chỉ ngoại ngữ này. Nhất là trong bối cảnh chi phí để ôn và thi IELTS tại Việt Nam hiện nay còn rất cao.

Theo dõi điểm thi tốt nghiệp THPT hàng năm có thể thấy, phổ điểm trung bình môn Tiếng Anh chỉ quanh quẩn ở mức 5 điểm. Song dữ liệu từ các tổ chức khảo thí quốc tế lại cho thấy phổ điểm IELTS đang ở mức 5,5, nếu quy đổi theo khung VSTEP, thì đang cao hơn B1. Sự chênh lệch trong phổ điểm thi tiếng Anh kỳ của kỳ thi tốt nghiệp THPT và điểm thi IELTS cho thấy rõ sự chênh lệch. Với mức chi phí học và thi cao, những học sinh có đủ điều kiện tài chính để học và thi IELTS cũng thường là nhóm có lợi thế về đầu tư giáo dục. Do đó, đây cũng chính là nhóm đối tượng có điểm số tốt hơn.

Bên cạnh đó, kỳ thi IELTS được thiết kế hoàn toàn khác với các bài thi Tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay. Mặc dù cả 2 kỳ thi đều dùng Khung tham chiếu ngôn ngữ chung Châu Âu (CEFR), tuy nhiên khung tham chiếu này chỉ mang tính chất mô tả năng lực của học sinh. Việc quy đổi từ điểm thi IELTS sang điểm thi tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hoàn toàn chưa đủ căn cứ về mặt kỹ thuật cũng như chuyên môn. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi trường đại học có một mức quy đổi khác nhau.

Trong những năm đầu đưa chứng chỉ IELTS vào tuyển sinh, mỗi trường chỉ có chục hồ sơ thí sinh có chứng chỉ này, thì đến nay, con số này đã lên đến hàng ngàn hồ sơ mỗi năm.

Do đó, việc siết dần chứng chỉ này trong tuyển sinh là phù hợp, cần đưa chứng chỉ IELTS về đúng vai trò của nó, là chứng chỉ ngoại ngữ chứ không phải điều kiện để xét tuyển đại học, để cạnh tranh và loại trừ thí sinh.

“Người giỏi ngoại ngữ chưa chắc đã giỏi chuyên môn”

PV: Việc tập trung quá nhiều vào ngoại ngữ trong tuyển sinh đầu vào cũng dẫn đến những băn khoăn như liệu có ảnh hưởng đến năng lực các môn khoa học cơ bản của thí sinh, điều này có gây ảnh hưởng gì đến chất lượng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật trong tương lai không, thưa ông?

Ông Ngô Huy Tâm: Câu hỏi này cũng đã được Ủy ban Châu Âu đặt ra từ rất lâu. Ở khối liên minh Châu Âu, ngôn ngữ làm việc chính thức là tiếng Anh. Tuy nhiên liên minh Châu Âu cũng gồm rất nhiều quốc gia với đa ngôn ngữ. Do đó, họ đã nghiên cứu và kết luận rằng, giỏi ngoại ngữ không đồng nghĩa với giỏi chuyên môn. Nhưng cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng khi một người giỏi cả chuyên môn và ngoại ngữ sẽ tác động nhất định đến tỷ lệ thành công.

Chúng ta không thể đưa 2 khái niệm chuyên môn và ngoại ngữ vào để so sánh. Những lo ngại như trên cũng hoàn toàn có căn cứ. Hiện nay chúng ta đánh giá học sinh dựa trên năng lực ngoại ngữ, dẫn đến tâm lý coi người giỏi ngoại ngữ là người thông minh, điều này không hoàn toàn đúng. Tôi cho rằng, cần tách năng lực chuyên môn với năng lực ngoại ngữ để đánh giá cụ thể.

PV: Vậy theo ông, trong xét tuyển đại học, chứng chỉ ngoại ngữ nên được sử dụng như thế nào?

Ông Ngô Huy Tâm: Chứng chỉ ngoại ngữ nên được coi như một điều kiện, chứ không phải điểm xét tuyển. Tại châu Âu, có rất nhiều trường đại học yêu cầu đầu vào tiếng Anh là B2 (Theo khung tham chiếu 6 bậc châu Âu – CEFR - phóng viên). Có một số trường đặc biệt yêu cầu đầu vào là C1.

Đầu vào của thí sinh có thể khác nhau, nhưng họ không xét học sinh đỗ - trượt và cạnh tranh dựa vào chứng chỉ ngoại ngữ mà dùng như một tiêu chuẩn để được xét tuyển vào một số ngành cần thiết.

Tương lai cần đưa chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS về đúng vị trí của nó như vậy.

Học ngoại ngữ để giao tiếp, làm việc, giao lưu và hội nhập, không phải để “cạnh tranh” vào đại học

PV: Những năm gần đây độ “nóng” của chứng chỉ IELTS khiến không ít phụ huynh sốt sắng cho con ôn thi IELTS từ rất sớm, thậm chí từ tiểu học, điều này có nên hay không, thưa ông?

Ông Ngô Huy Tâm: Trên thế giới không có quốc gia nào có độ tuổi thi IELTS thấp như Việt Nam.

Điều này không thực sự tốt cho trẻ. Đề thi IELTS mang tính hàn lâm và kiến thức nền tảng xã hội rất cao. Sẽ có một số ít học sinh xuất sắc, nhung đây không phải đề thi được kỳ vọng dành cho đa số trẻ nhỏ.

Ở các quốc gia, độ tuổi thi IELTS từ 15-18 tuổi chiếm tỷ lệ lớn. Nhưng ở Việt Nam, độ tuổi thi IELTS đang dưới 15 tuổi, từ khoảng 13 tuổi đã rất nhiều học sinh thi. Điều đó có nghĩa các em sẽ phải học từ khoảng 10 tuổi.

Nhưng trong độ tuổi từ 10-13 tuổi, có rất nhiều các kỳ thi khác phù hợp với độ tuổi và sự phát triển trí não, nhận thức của học sinh, không nhất thiết là IELTS.

PV: Vậy nếu không phải IELTS thì hướng đi nào phù hợp nếu muốn phát triển năng lực ngoại ngữ từ sớm, thưa ông?

Ông Ngô Huy Tâm: Tôi rất ủng hộ vấn đề phát triển ngoại ngữ và ngôn ngữ nói chung ở độ tuổi nhỏ. Việc tiếp cận có thể từ mầm non, tiểu học, lớp 1 là rất đúng. Hiện nay có rất nhiều các kỳ thi tiếng Anh phù hợp với các bạn nhỏ mà cha mẹ có thể tham khảo. Các bậc phụ huynh cũng cần nhớ rằng không nên quá tập trung vào một mục tiêu là lấy chứng chỉ mà nên giúp con phát triển năng lực ngoại ngữ nói chung, khi con có nền tảng tốt, thì dù là kỳ thi nào vẫn có thể hoàn thành tốt.

Việc ôn thi IELTS quá sớm, với cách luyện học theo mẹo, tập trung để đạt điểm số cao là không nên.

Hiện nay chúng ta đang sử dụng ngoại ngữ như một công cụ cạnh tranh, thay vì một công cụ thi đua.

Khi chúng ta coi chứng chỉ ngoại ngữ là một công cụ để cạnh tranh, để thi đấu đương nhiên sẽ có rất nhiều hình thức để đối phó với luật thi. Điều này cũng dẫn đến tình trạng luyện thi theo chủ đề, theo mẹo, tìm mọi cách để đạt điểm cao trong kỳ thi đó, điều đó làm giảm đi tinh thần thi đua, vì học sinh, lấy học sinh làm trung tâm - học ngoại ngữ để các em giao tiếp, làm việc, giao lưu và hội nhập.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Trang/VOV.VN

Nguồn VOV: https://vov.vn/xa-hoi/can-dua-ielts-ve-dung-vi-tri-post1264030.vov