Cần khơi thông chính sách ngành cơ khí chế tạo
Hàng loạt dự án hạ tầng, công nghiệp, năng lượng đang tạo ra nhu cầu lớn về thiết bị, linh kiện, kết cấu và sản phẩm cơ khí; thế nhưng nguồn cầu này chưa tự chuyển thành đơn hàng cho doanh nghiệp (DN) trong nước. Phần lớn DN cơ khí, chế tạo vẫn tham gia ở những công đoạn gia công đơn giản; trong khi đó, các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống và chế tạo thiết bị có giá trị gia tăng cao còn hạn chế.

Sản phẩm của Công ty TNHH MTV Kim Vĩnh Thắng (Khu công nghiệp Hố Nai).
Bài toán của ngành cơ khí vì thế không chỉ nằm ở máy móc, công nghệ hay vốn đầu tư mà còn ở cách chính sách kết nối nhu cầu thị trường với năng lực sản xuất trong nước.
Từ nhu cầu thị trường
Ông Nguyễn Hữu Thật, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và thương mại Diệp Nam Phương (phường Long Thành) cho biết: DN đang tiếp tục đầu tư máy móc, công nghệ để mở rộng sản phẩm cơ khí chế tạo. Theo ông Thật, sự phát triển của các dự án hạ tầng, khu công nghiệp đang tạo thêm cơ hội cho DN; điều DN kỳ vọng là có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
Với một DN cơ khí, đầu tư thêm máy CNC, thiết bị đo kiểm hay tự động hóa một công đoạn là khoản vốn không nhỏ. DN không chỉ phải tính toán giá thiết bị mà còn là sau đầu tư có đơn hàng nào, sản lượng bao nhiêu và mất bao lâu để thu hồi vốn.
Đây là một trong những điểm khiến DN thận trọng khi nâng cấp năng lực. Khi yêu cầu kỹ thuật, sản lượng và khả năng tham gia chuỗi cung ứng chưa được xác định từ sớm, DN khó mạnh dạn đầu tư trước để đón đầu thị trường.
Theo ông Đặng Quốc Nghi, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ thành phố, khó khăn lớn đối với một DN đổi mới đôi khi không phải thiếu ý tưởng hay thiếu vốn, mà là chưa có khách hàng đầu tiên đủ uy tín để khẳng định giá trị sản phẩm mình làm ra.
Từ thực tế đó, ông Nghi kiến nghị, hằng năm chính quyền, DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các DN lớn công bố những nhu cầu thực tế cần giải quyết như: tiết kiệm điện trong nhà máy, truy xuất nông sản, xử lý phụ phẩm, giám sát môi trường, dịch vụ cho người lao động, vận hành khu vực sân bay hay số hóa một quy trình công cộng. Khi nhu cầu được đặt thành những bài toán cụ thể, DN có cơ sở đề xuất giải pháp theo yêu cầu của đối tác. Chính quyền cần tạo sân chơi và cơ hội công bằng để giải pháp phù hợp được chứng minh bằng thực tế.
Với ngành cơ khí, cách tiếp cận này có thể bắt đầu từ việc công bố sớm nhu cầu về thiết bị, phụ tùng, linh kiện, kết cấu, dây chuyền và các yêu cầu kỹ thuật của những dự án lớn. DN trong nước từ đó biết thị trường cần gì, mình có thể làm đến đâu và còn thiếu năng lực nào để đầu tư. Muốn đi sâu hơn vào chuỗi giá trị, DN phải chuyển từ gia công sang thiết kế, chế tạo thiết bị, tích hợp hệ thống và từng bước làm chủ công nghệ. Nhưng để đầu tư cho bước chuyển này, DN cần một tín hiệu thị trường đủ rõ.
Khơi thông chính sách từ sản xuất
Điểm cần thay đổi trong chính sách hỗ trợ ngành cơ khí là không chỉ giúp DN mua máy móc, đổi mới thiết bị hay đào tạo lao động, mà phải gắn hỗ trợ với nhu cầu thực tế của thị trường.
Một DN có đơn hàng nhưng thiếu thiết bị đo kiểm sẽ cần cơ chế hỗ trợ khác với DN chưa làm chủ công nghệ thiết kế. DN đã có sản phẩm nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn của nhà cung ứng cấp 1 lại cần hỗ trợ về tiêu chuẩn, chứng nhận và hoàn thiện quy trình sản xuất. Với DN có sản phẩm mới nhưng chưa có khách hàng đầu tiên, cơ chế thử nghiệm, đặt hàng hoặc triển khai thí điểm có thể tạo bước đệm quan trọng.
Đây là hướng có thể vận dụng tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đặt yêu cầu tháo gỡ các rào cản về thể chế, tạo cơ chế thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và thúc đẩy sản phẩm công nghệ trong nước. Với ngành cơ khí, tinh thần này cần được đưa vào những bài toán sản xuất cụ thể: sản phẩm mới phải có nơi thử nghiệm, DN muốn bước vào chuỗi cung ứng phải có cơ hội chứng minh năng lực, công nghệ mới phải có dự án thực tế để hoàn thiện.
Quyết định số 929/QĐ-TTg, ngày 25-5-2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 cũng xác định cơ khí và tự động hóa thuộc nhóm lĩnh vực ưu tiên. Đối với Đồng Nai, vấn đề tiếp theo là cụ thể hóa những định hướng này theo năng lực DN trên địa bàn. Thành phố cần xác định những sản phẩm cơ khí có thể làm ngay, những sản phẩm cần đầu tư thêm công nghệ, DN nào có khả năng trở thành nhà cung ứng và đang thiếu điều kiện gì để tham gia chuỗi cung ứng.
Từ đó, chính sách mới xác định được hỗ trợ cho ai, ở khâu nào và bằng hình thức nào. Hỗ trợ cũng cần gắn với kết quả đầu ra, có thời hạn và tiêu chí cụ thể, tập trung vào những sản phẩm có dung lượng thị trường lớn, khả năng thay thế nhập khẩu hoặc có cơ hội tham gia các dự án trọng điểm.
Theo Tiến sĩ Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí (Bộ Công thương), dư địa đối với ngành cơ khí, chế tạo của Việt Nam còn rất lớn. Muốn khai thác hiệu quả dư địa thị trường, cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm như: phát triển sản phẩm chiến lược, làm chủ công nghệ, xây dựng DN cơ khí nòng cốt và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh và mức độ tham gia của DN Việt Nam vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định ưu tiên nguồn lực và có cơ chế, chính sách đủ mạnh để phát triển những lĩnh vực ưu tiên của các ngành công nghiệp nền tảng. Theo đó, ưu tiên phát triển cơ khí phục vụ sản xuất máy nông nghiệp, ô tô, tàu biển, thiết bị công trình, thiết bị năng lượng, thiết bị điện, thiết bị y tế...; nâng cao năng lực tự chủ của DN trong nước.
