Kinh tế thế giới đang trụ vững dưới sức ép của lãi suất tăng
Trong lúc lãi suất đi vay trên toàn cầu leo thang, một số nhà kinh tế nhận thấy có một dấu hiệu tích cực là nền kinh tế đủ mạnh để đương đầu áp lực này...

Ảnh minh họa - Ảnh: Anadolu.
Các nền kinh tế trên thế giới đang thể hiện sự kiên cường đáng ngạc nhiên trước việc các ngân hàng trung ương nâng lãi suất và lợi suất trái phiếu chính phủ tăng lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ qua ở các nước phát triển. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) nằm trong số các ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất trong năm nay để kiềm chế lạm phát liên quan đến cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iran.
Các nhà đầu tư kỳ vọng rằng các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách và duy trì lãi suất ở mức cao trong tương lai gần. Sức bền của nền kinh tế trước áp lực từ lãi suất cao hơn cho thấy nền kinh tế đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mạnh mẽ hơn, được hỗ trợ bởi sự làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) mà các nhà kinh tế hy vọng sẽ thúc đẩy năng suất trong nhiều năm tới.
Mặc dù lãi suất tăng khiến việc vay tiền để đầu tư vào kinh doanh hoặc mua nhà trở nên tốn kém hơn và làm giảm nhu cầu, nhưng có những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế tổng thể có đủ sức mạnh để chống chịu.
Thị trường chứng khoán, nhất là Mỹ, cũng đã vượt qua được trở ngại của lãi suất tăng tốt hơn nhiều so với dự báo của nhiều người, với lợi nhuận doanh nghiệp vẫn ổn định và sức hút của các cổ phiếu liên quan tới AI vẫn còn nguyên vẹn. Mặc dù nhiều nhà đầu tư và nhà phân tích ở Phố Wall cảnh báo rằng lãi suất cao hơn có thể kéo tiền ra khỏi thị trường chứng khoán để rót vào trái phiếu có lợi suất cao hơn, nhưng cho đến nay điều đó vẫn chưa xảy ra.
LÃI SUẤT TRUNG TÍNH TĂNG TRÊN TOÀN CẦU
Trao đổi với tờ báo Wall Street Journal, ông Sven Jari Stehn - nhà kinh tế trưởng về châu Âu tại ngân hàng Goldman Sachs - nhận định: "Đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy nền kinh tế có thể tải được lãi suất cao hơn, vì về cơ bản, sức mạnh tăng trưởng cốt lõi đã được cải thiện”.
Giới chuyên gia kinh tế đang nâng mức ước tính về lãi suất trung tính - một chỉ số quan trọng nhưng khó nắm bắt, là mức lãi suất không hạn chế cũng không kích thích tăng trưởng.
Lãi suất trung tính thường được mô tả như một căn cứ để các ngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực trạng của nền kinh tế, mặc dù các nhà hoạch định chính sách nói rằng họ không lấy lãi suất trung tính làm mục tiêu.
Sau khi kết thúc cuộc họp chính sách tiền tệ của Fed vào tuần trước, Chủ tịch Fed Kevin Warsh mô tả lãi suất trung tính là "hữu ích về mặt học thuật" nhưng không liên quan đến việc ra quyết định của ông.
Lãi suất trung tính không thể được xác định thông qua quan sát trực tiếp, mà phải thông qua suy luận. Tăng trưởng kinh tế và áp lực giá cả gia tăng cho thấy lãi suất chính sách đang dưới mức trung tính, còn lạm phát và tăng trưởng suy yếu cho thấy lãi suất chính sách đang trên mức trung tính.
Trong suốt năm nay, một số nhà hoạch định chính sách của Fed đã mô tả chính sách của ngân hàng trung ương này là hơi mang tính thắt chặt. Ông Warsh nói rằng ông và các đồng nghiệp của mình "khó tìm thấy" bằng chứng về điều đó, với thị trường lao động đang mạnh lên. Ông mô tả việc tăng lãi suất như là việc loại bỏ một "liều thuốc hỗ trợ” đối với nền kinh tế.
Dự báo lãi suất mới nhất của Fed cho thấy ước tính trung vị của các nhà hoạch định chính sách về lãi suất trung tính đã tăng lên 3,25% từ 3,1%, một sự gia tăng lớn bất ngờ theo đánh giá của Goldman Sachs.
Trong mùa hè năm nay, nhà kinh tế trưởng của ECB ước tính phạm vi lãi suất trung tính của khu vực đồng euro đã tăng thêm 1/4 điểm phần trăm, lên 2,5% ở mức cao nhất. Lãi suất trung tính của Nhật Bản cũng đã tăng khoảng 1/4 điểm phần trăm - theo ước tính của Goldman Sachs vào tháng trước.
Sự gia tăng trong ước tính lãi suất trung tính là một nguyên nhân thúc đẩy việc bán tháo trái phiếu chính phủ các kỳ hạn dài - theo ông Daniel Harenberg, nhà kinh tế trưởng tại công ty nghiên cứu kinh tế Oxford Economics. Lợi suất trái phiếu phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về lãi suất của ngân hàng trung ương sẽ ở trong tương lai, cũng như các yếu tố khác như tính bền vững của nợ công.

Lãi suất trung tính của Mỹ theo lãi suất của Fed - Nguồn: Fed/WSJ.
Ông Harenberg tin rằng sự gia tăng trong lãi suất trung tính toàn cầu chỉ mới bắt đầu. Ông dự báo lãi suất trung tính sẽ tăng thêm nửa điểm phần trăm ở Mỹ trong vòng 5 năm tới, và khoảng 1/4 điểm phần trăm ở khu vực đồng euro trong cùng khoảng thời gian.
Kỳ vọng về năng suất được thúc đẩy bởi AI là một phần nguyên nhân cho sự gia tăng lãi suất trung tính ở cả Mỹ và châu Âu, mặc dù ông Harenberg dự báo châu Âu sẽ mất nhiều thời gian hơn để thấy được hiệu quả đầy đủ của AI do việc áp dụng chậm hơn.
"Tăng trưởng năng suất nhiều hơn mang lại nhiều tiền thuế hơn, giúp cho việc quản lý lãi suất cao hơn trở nên dễ hơn”, ông nói.
TRIỂN VỌNG CÓ KHẢ QUAN Ở TẤT CẢ CÁC NỀN KINH TẾ?
Trong khi đó, các yếu tố khác thúc đẩy lãi suất trung tính cao hơn lại đang gây lo ngại nhiều hơn, chẳng hạn như mức nợ chính phủ cao hơn - nhà kinh tế trưởng nhấn mạnh. Nợ chính phủ tăng có nghĩa là người vay phải trả lãi suất cao hơn để thúc đẩy các nhà đầu tư mua thêm nợ.
Theo các nghiên cứu học thuật, lãi suất trung tính đã giảm kể từ những năm 1980. Nhiều nhà kinh tế cho rằng sự sụt giảm đó một phần là do nhu cầu tiết kiệm hưu trí cao hơn khi dân số già đi, và nhu cầu đầu tư sản xuất hơn giảm đi.
Tiếp đó là tình trạng mà cựu Chủ tịch Fed Ben Bernanke gọi là "dư thừa tiết kiệm toàn cầu" vào đầu những năm 2000. Ông lập luận rằng các quốc gia như Trung Quốc đang tiếp tục đẩy lãi suất toàn cầu xuống bằng cách đầu tư thặng dư thương mại khổng lồ của họ vào các tài sản an toàn như trái phiếu kho bạc Mỹ.
Phát biểu hồi tháng 8, ông Warsh nhận định tình trạng dư thừa tiết kiệm hiện đã kết thúc. "Những gì đang diễn ra bây giờ là sự bùng nổ đầu tư toàn cầu”, ông nói.

Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của một số nền kinh tế phát triển - Nguồn: WSJ.
Có thể, các ngân hàng trung ương hoan nghênh việc lãi suất trung tính cao hơn, vì lãi suất như vậy cho phép họ có nhiều không gian hơn để tăng lãi suất nhằm chống lạm phát và nhiều dư địa hơn để cắt giảm lãi suất trong giai đoạn suy thoái để kích thích tăng trưởng. Trong những năm 2010, nhiều ngân hàng trung ương lo ngại về lãi suất thấp, vì hạn chế khả năng cắt giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng trong thời kỳ khủng hoảng.
Ông Lukasz Rachel, giáo sư kinh tế trường University College London, nhận định: "Lãi suất thấp là chỉ báo về một tương lai ảm đạm. Theo nghĩa đó, lãi suất trung tính cao hơn là tin tốt”. Tuy vậy, ông vẫn lo ngại sự gia tăng mạnh mẽ của lợi suất sẽ gây ra tổn thất, chẳng hạn như các chính phủ sẽ gặp khó khăn trong việc trả lãi nợ công.
"Sự dịch chuyển chỉ trong vòng vài năm từ một thế giới trì trệ kéo dài sang thế giới có lợi suất cao không thể tránh khỏi việc khiến một số người bất ngờ”, ông nói.
Và một số nhà kinh tế đặt câu hỏi liệu triển vọng tăng trưởng có thực sự sáng sủa hơn, đặc biệt là bên ngoài Mỹ.
Ông Carsten Brzeski, trưởng bộ phận nghiên cứu vĩ mô toàn cầu tại ngân hàng ING, nhận định: "Ở Mỹ, có lý hơn khi tin rằng lãi suất trung tính đã tăng lên. Ở châu Âu, tôi vẫn đang chưa thực sự tin là như vậy. Tôi không thấy câu chuyện tăng trưởng năng suất ở đây. Tôi không thấy sự gia tăng trong tiềm năng tăng trưởng”.



