Canh tác bền vững: Bước ngoặt của cà phê Tây Bắc

Chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với ngành cà phê Tây Bắc.

 Phần lớn diện tích cà phê tại Tây Bắc mới chỉ được mở rộng mạnh mẽ trong vòng một thập kỷ trở lại đây - Ảnh: Chinhphu.vn/ Đỗ Hương

Phần lớn diện tích cà phê tại Tây Bắc mới chỉ được mở rộng mạnh mẽ trong vòng một thập kỷ trở lại đây - Ảnh: Chinhphu.vn/ Đỗ Hương

Làn sóng mở rộng diện tích cà phê tại Tây Bắc

Liên minh Châu Âu (EU) hiện là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 40% tổng lượng cà phê xuất khẩu của cả nước. Kể từ khi EU chính thức ban hành Quy định chống mất rừng (EUDR), ngành cà phê Việt Nam đã và đang khẩn trương triển khai nhiều hoạt động thích ứng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường này.

Các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm thu thập dữ liệu ranh giới vùng trồng gắn với từng nông hộ, xây dựng bản đồ ranh giới rừng quốc gia năm 2020 làm chuẩn truy xuất nguồn gốc, thiết lập hệ thống dữ liệu vùng trồng thống nhất trên toàn quốc và ban hành các cơ chế quản lý đồng bộ cho toàn ngành hàng.

Trong bối cảnh đó, khu vực Tây Bắc, đặc biệt là tỉnh Sơn La và Điện Biên đang vươn lên trở thành trung tâm sản xuất cà phê Arabica lớn nhất cả nước. Thống kê từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La cho thấy, diện tích cà phê trên địa bàn tỉnh hiện đã đạt gần 40.000 ha và vẫn tiếp tục gia tăng. Tương tự, tại tỉnh Điện Biên, chỉ tính riêng trong năm 2026, diện tích cà phê trồng mới đã vượt mốc 10.000 ha. Việc bùng nổ diện tích trồng cà phê tại Tây Bắc đã mang lại cơ hội nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế thiết thực cho các cộng đồng nông hộ, mà phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực miền núi.

Mặc dù phát triển nhanh chóng, sản xuất cà phê tại Tây Bắc đang đối mặt với những khác biệt mang tính chất cấu trúc và nhiều rủi ro sinh thái khi so sánh với vùng chuyên canh cà phê Tây Nguyên.

Ông Nguyễn Mạnh Sơn, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, cho biết tại Tây Nguyên, nơi tập trung trên 90% diện tích cà phê cả nước, hầu hết các vùng trồng được hình thành trong giai đoạn từ thập niên 1980 đến 2000 và hiện đã đi vào ổn định. Phần lớn diện tích tại đây được thâm canh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kết hợp trồng xen cây che bóng, đa dạng hóa sản phẩm và nhiều vùng trồng đã đạt các chứng nhận phát triển bền vững quốc tế.

Ngược lại, phần lớn diện tích cà phê tại Tây Bắc mới chỉ được mở rộng mạnh mẽ trong vòng một thập kỷ trở lại đây, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2023 khi giá cà phê xuất khẩu trên thị trường thế giới tăng cao. Do phát triển tự phát, đa số nông hộ tại Tây Bắc vẫn áp dụng phương thức canh tác quảng canh, dựa hoàn toàn vào nguồn "nước trời" và phụ thuộc vào kinh nghiệm truyền thống. Việc canh tác cà phê theo phương thức cũ trên địa hình có độ dốc lớn của vùng núi Tây Bắc không chỉ khiến năng suất cây trồng bị hạn chế mà còn gây ra tình trạng xói mòn, rửa trôi và suy thoái đất nghiêm trọng.

Thực trạng này đòi hỏi ngành nông nghiệp địa phương phải nhanh chóng chuyển đổi mô hình từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững, vừa bảo vệ tài nguyên đất nước, vừa đáp ứng các tiêu chí minh bạch về môi trường của EUDR.

Giải pháp nhân rộng và triển vọng phát triển bền vững

Phân tích sâu về giải pháp kỹ thuật ứng phó với tình trạng khan hiếm nước và biến đổi khí hậu tại Tây Bắc, TS. Nguyễn Thế Mạnh, Đại diện Tổ chức CARE cho biết tổ chức này đã có một nghiên cứu và triển khai về đề tài "Tưới tiết kiệm cho cây cà phê Arabica tại Sơn La: Hiệu quả và thách thức". Theo nghiên cứu và thực tiễn triển khai từ tổ chức CARE, việc ứng dụng các hệ thống tưới hiện đại, tiêu biểu là mô hình tưới phun mưa (PET) không chỉ giúp tối ưu hóa lượng nước tưới cho cây Arabica trên đất dốc mà còn duy trì độ ẩm cho đất, giảm xói mòn và gia tăng khả năng chống chịu của cây trồng trong mùa khô hạn.

Ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc Hợp tác xã Cà phê Bích Thao cho biết HTX của ông đã thực hiện trồng xen cây ăn quả và cây che bóng trong vườn cà phê. Giải pháp này giúp tạo tán che mát, cải thiện hệ sinh thái vi sinh vật trong đất, hạn chế sâu bệnh và tạo ra sản phẩm cà phê chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí khắt khe về phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc.

Thực tiễn cho thấy, việc chuyển đổi mô hình sản xuất cà phê tại Tây Bắc hoàn toàn có thể kế thừa kinh nghiệm và kiến thức kỹ thuật từ vùng chuyên canh Tây Nguyên. Tuy nhiên, các kỹ thuật này cần được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với đặc thù chủng loại cà phê Arabica, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu sinh thái và tập quán canh tác của bà con dân tộc thiểu số tại vùng núi phía Bắc.

Ông Nguyễn Cảnh Tâm, đại diện Công ty TMT Consulting, cho rằng quy mô trồng cà phê ở Tây Bắc không nhất thiết là hạn chế cơ học diện tích, mà quan trọng hơn là kiểm soát vùng trồng, chất lượng sản xuất và giảm rủi ro cho nông hộ.

Theo ông Tâm, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cây cà phê, người dân có thể đa dạng hóa sinh kế ngay trên vườn thông qua trồng xen cây ăn quả, cây che bóng, phát triển nông lâm kết hợp hoặc kết hợp chăn nuôi.

Cách làm này vừa giảm sự phụ thuộc vào biến động giá cà phê, vừa góp phần bảo vệ đất và cải thiện hệ sinh thái vườn.

Ông Đỗ Thành Duy, Giám đốc Công ty Tân Cao Nguyên, cho rằng cà phê tại Tây Bắc có lợi thế nhất định khi phần lớn Arabica được sơ chế ướt, nông dân thường bán quả tươi ngay tại vườn, qua đó hạn chế nguy cơ cà phê bị phơi, lưu trữ và trộn lẫn qua nhiều khâu.

Tuy nhiên, ranh giới giữa đất lâm nghiệp và đất sản xuất, cũng như quyền sử dụng đất, vẫn cần được làm rõ. Theo ông Duy, việc xây dựng bản đồ vùng trồng, xác định rõ ranh giới đất và chuẩn hóa dữ liệu có ý nghĩa quyết định đối với khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.

Theo Báo Chính phủ

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/canh-tac-ben-vung-buoc-ngoat-cua-ca-phe-tay-bac-119201.html