Xuất khẩu cà phê hơn 6 tỷ USD, làm sao tăng thêm giá trị?

Cà phê Việt Nam đã có vị thế lớn về xuất khẩu nhưng phần lớn vẫn được bán dưới dạng nguyên liệu. Chênh lệch giá trị giữa cà phê nhân và sản phẩm đến tay người tiêu dùng mở ra dư địa lớn để ngành cà phê nâng giá trị xuất khẩu, thay vì tiếp tục trông chờ vào sản lượng và giá thế giới.

Hơn 8% lượng xuất khẩu mang về 17,5% kim ngạch

Việt Nam từ lâu đã nằm trong nhóm những quốc gia xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, nhưng khi nguồn cung toàn cầu được cải thiện và giá bán chịu sức ép, tăng sản lượng không còn đồng nghĩa kim ngạch sẽ tiếp tục tăng tương ứng. Chín tháng đầu năm 2026, lượng cà phê xuất khẩu tăng 15,4% nhưng kim ngạch giảm 7,3% so với cùng kỳ năm 2025.

 Cà phê nhân vẫn chiếm phần lớn lượng xuất khẩu, khiến kim ngạch ngành hàng phụ thuộc nhiều vào biến động giá thế giới.

Cà phê nhân vẫn chiếm phần lớn lượng xuất khẩu, khiến kim ngạch ngành hàng phụ thuộc nhiều vào biến động giá thế giới.

Dư địa lớn hiện nằm ở chế biến sâu. Cà phê chế biến chỉ chiếm khoảng 8,2-8,3% tổng lượng cà phê xuất khẩu nhưng mang về tới 17,5% kim ngạch. Nhu cầu đối với cà phê hòa tan, rang xay và các sản phẩm phối trộn tiếp tục tăng, trong đó một số doanh nghiệp đã có đơn hàng xuất sang Trung Quốc đến cuối năm 2026.

Giá trị của hạt cà phê cũng đang được tạo ra ngay từ vùng nguyên liệu. Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, cho biết khoảng 35-40% nguồn cà phê Việt Nam hiện có khả năng đáp ứng yêu cầu của Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu - EUDR. Những lô hàng đáp ứng yêu cầu này được mua cao hơn khoảng 50 USD mỗi tấn so với cà phê thông thường. Dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và lịch sử sử dụng đất trở thành những yếu tố doanh nghiệp phải chuẩn bị để đáp ứng yêu cầu của người mua.

Tại Tây Nguyên, chương trình NESCAFÉ Plan đã hỗ trợ tái canh hơn 100.000 ha cà phê già cỗi, tiết kiệm 40-60% lượng nước tưới và giảm khoảng 20% phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Dữ liệu nông hộ cũng được số hóa để phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý vùng nguyên liệu. Việc nâng giá trị cà phê vì thế bắt đầu ngay từ cách tổ chức vùng trồng, kiểm soát chất lượng và khả năng chứng minh nguồn gốc của từng lô hàng.

Chia sẻ tại Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển Bền vững Việt Nam 2026 ngày 5/10, ông Binu Jacob - Tổng giám đốc Nestlé Việt Nam, cho rằng việc tạo thêm giá trị phải diễn ra ở toàn bộ chuỗi, thay vì chỉ tập trung vào khâu chế biến.

 Thông qua NESCAFÉ Plan, Nestlé Việt Nam hỗ trợ nông hộ áp dụng phương pháp canh tác bền vững, nâng chất lượng nguồn nguyên liệu.

Thông qua NESCAFÉ Plan, Nestlé Việt Nam hỗ trợ nông hộ áp dụng phương pháp canh tác bền vững, nâng chất lượng nguồn nguyên liệu.

“Phát triển bền vững chỉ thực chất và bền lâu khi gắn liền với lợi ích kinh tế thiết thực của từng mắt xích trong chuỗi giá trị, từ nông dân, nhà máy đến các doanh nghiệp nằm trong chuỗi giá trị. Một doanh nghiệp không thể đi một mình trên hành trình phát triển bền vững. Sự bền vững chỉ có được khi chúng ta xây dựng được một hệ sinh thái, nơi mọi năng lực được củng cố và tăng cường đồng bộ, từ tiêu chuẩn trong nước đến yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế”, ông Binu Jacob cho biết.

Từ vùng nguyên liệu, phần giá trị tiếp tục được nâng lên tại nhà máy. Nestlé Việt Nam đang ứng dụng tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và số hóa trong kiểm soát chất lượng, đồng thời tăng sử dụng năng lượng tái tạo. Bao bì, kho vận và logistics cũng là những lĩnh vực doanh nghiệp trong nước có thể tham gia nhiều hơn nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Nhìn theo toàn bộ chuỗi, khoảng cách về giá trị không chỉ nằm giữa cà phê nhân và cà phê chế biến mà kéo dài từ vùng trồng, dữ liệu truy xuất, công nghệ sản xuất đến những khâu phía sau nhà máy.

Bán được nhiều cà phê nhưng chưa nắm người mua cuối cùng

Một phần giá trị cao hơn của ngành cà phê hiện vẫn nằm ở rang xay, xây dựng thương hiệu, phân phối, logistics và quan hệ trực tiếp với người mua. Ông Daan Wensing - Tổng giám đốc điều hành Tổ chức IDH, cho rằng Việt Nam còn nhiều dư địa ở “giá trị gia tăng nội địa”, trong đó cần tăng tỷ trọng sản phẩm cuối cùng có hàm lượng công nghệ cao, nâng năng lực chế biến và giữ thêm lợi nhuận trong nước, thay vì để phần giá trị lớn tiếp tục được tạo ra tại các nhà rang xay và hệ thống phân phối bên ngoài Việt Nam.

Điểm yếu hiện nay không còn nằm ở khả năng sản xuất số lượng lớn. Việt Nam đã có nguồn nguyên liệu, hệ thống nhà máy và thị trường xuất khẩu rộng, nhưng quan hệ với người mua cuối cùng vẫn phần lớn được hình thành thông qua các nhà nhập khẩu, rang xay và phân phối quốc tế. Khi những khâu này nằm ngoài doanh nghiệp Việt, khả năng quyết định giá bán, phát triển sản phẩm theo nhu cầu từng thị trường và xây dựng thương hiệu cũng bị hạn chế.

 Đầu tư công nghệ chế biến giúp nâng giá trị hạt cà phê và mở rộng khả năng cung ứng sản phẩm cho thị trường quốc tế.

Đầu tư công nghệ chế biến giúp nâng giá trị hạt cà phê và mở rộng khả năng cung ứng sản phẩm cho thị trường quốc tế.

Thị trường Đức là một ví dụ. Theo thông tin Thương vụ Việt Nam tại Đức, doanh thu cà phê tại đây đạt gần 20 tỷ euro mỗi năm, với khoảng 2.500 nhà rang xay. Người mua ngày càng quan tâm nhiều hơn đến cà phê đặc sản, chất lượng ổn định, nguồn gốc và những đặc tính riêng của sản phẩm. Doanh nghiệp Việt đang chuyển dần từ xuất khẩu cà phê nhân sang rang xay và cà phê đặc sản, nhưng quá trình này vẫn mới ở giai đoạn đầu.

Muốn nâng giá trị xuất khẩu cà phê, doanh nghiệp phải biết người tiêu dùng cuối cùng cần gì thay vì chỉ đáp ứng quy cách của một lô hàng xuất khẩu. Chất lượng rang, khẩu vị, quy cách đóng gói, thương hiệu, dữ liệu truy xuất và khả năng giao hàng ổn định đều ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm. Nếu chỉ dừng ở bán cà phê nhân, phần công việc này cùng giá trị gia tăng đi kèm sẽ được chuyển sang nhà rang xay và nhà phân phối tại thị trường nhập khẩu.

Ông Daan Wensing cũng lưu ý lợi thế sản xuất quy mô lớn của Việt Nam sẽ có giá trị hơn khi gắn với chất lượng ổn định, yêu cầu bền vững và khả năng đáp ứng dài hạn của người mua. Những yêu cầu về môi trường, thu nhập của nông dân và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu ngày càng được đưa vào chuỗi cung ứng, buộc doanh nghiệp phải đầu tư dài hạn hơn cho vùng nguyên liệu và quan hệ với khách hàng.

 Phát triển sản phẩm cà phê chế biến mang thương hiệu riêng mở thêm cơ hội tiếp cận người tiêu dùng và nâng giá trị xuất khẩu.

Phát triển sản phẩm cà phê chế biến mang thương hiệu riêng mở thêm cơ hội tiếp cận người tiêu dùng và nâng giá trị xuất khẩu.

Ở một mắt xích khác, ông Binu Jacob cho rằng doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa ở sản xuất bao bì, hậu cần và kho vận. Đây là những khâu có thể được nâng cấp để giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước. Khi nhà cung cấp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn thực phẩm, chuyển đổi số và ESG, họ có thể tiếp cận những thị trường có giá trị cao hơn, thay vì chỉ phục vụ một khách hàng.

Một hạt cà phê rời vùng nguyên liệu vẫn còn phải đi qua chế biến, rang xay, đóng gói, logistics, thương hiệu và hệ thống phân phối trước khi trở thành sản phẩm trên kệ hàng. Việt Nam đã có lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu và quy mô xuất khẩu cà phê. Khoảng giá trị còn lại phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có thể tham gia sâu đến đâu trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Thanh Ngân

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/xuat-khau-ca-phe-hon-6-ty-usd-lam-sao-tang-them-gia-tri-d70240.html