Cấp thiết tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị kinh tế trên biển
Ngành dầu khí Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mang tính cơ cấu. Nhiều mỏ chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên sau nhiều thập kỷ khai thác. Vậy đâu là hướng đi để ngành dầu khí vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên xanh?
Ngành dầu khí Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mang tính cơ cấu. Nhiều mỏ chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên sau nhiều thập kỷ khai thác.
Thực tế này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị dầu khí, từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến chế biến và dịch vụ kỹ thuật.
Ở thượng nguồn, cần đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò tại các vùng nước sâu, xa bờ; đồng thời ứng dụng công nghệ để tối ưu khai thác các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và nâng cao hệ số thu hồi tại những mỏ đang hoạt động.
Ở trung và hạ nguồn, trọng tâm là đẩy nhanh các chuỗi dự án khí lớn, phát triển đồng bộ hạ tầng khí thiên nhiên hóa lỏng LNG, nâng cao năng lực chế biến sâu và lọc hóa dầu, hướng tới những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Một dấu mốc quan trọng cho quá trình tái cấu trúc là Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 vừa được Quốc hội bấm nút thông qua, có hiệu lực từ năm 2027… được kỳ vọng tháo gỡ những vướng mắc kéo dài, cải thiện cơ chế ưu đãi đầu tư.
TS Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh rằng ngành dầu khí Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng trở thành một ngành khoa học kỹ thuật dầu khí, một nền tảng thúc đẩy công nghiệp, khoa học - công nghệ và các dịch vụ kỹ thuật có giá trị gia tăng cao, chứ không chỉ đóng vai trò khai thác năng lượng truyền thống.

Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu phân tích về những cơ chế, hành lang pháp lý mới tạo tiền đề đột phá cho ngành Dầu khí. Ảnh: VnEconomy
Chuyển dịch xanh cũng đang mở ra không gian phát triển mới cho ngành Dầu khí. Lợi thế về hạ tầng ngoài khơi, kinh nghiệm kỹ thuật giúp ngành Dầu khí có điều kiện tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydro xanh, amoniac xanh, thu giữ và lưu trữ carbon, cũng như giảm phát thải methane.
Đáng chú ý, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ trong khảo sát, thiết kế, chế tạo, xây lắp và vận hành công trình biển có thể trở thành lợi thế để doanh nghiệp Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng năng lượng mới, không chỉ ở thị trường trong nước mà cả quốc tế.
Đây cũng là định hướng chuyển đổi mô hình của Petrovietnam với ba trụ cột phát triển: năng lượng, công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Trong đó, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian tăng trưởng.
Tương lai ngành dầu khí không chỉ được quyết định bởi trữ lượng tài nguyên hay sản lượng khai thác, mà còn nằm ở năng lực làm chủ công nghệ, phát triển chuỗi giá trị và thích ứng với xu thế năng lượng xanh.
Chuyển dịch thành công sẽ giúp ngành vừa duy trì vai trò bảo đảm an ninh năng lượng, vừa đóng góp hiệu quả hơn cho mục tiêu tăng trưởng bền vững của đất nước.
Theo các chuyên gia, tái định hình ngành dầu khí không đơn thuần là thay đổi mô hình hoạt động, mà là quá trình nâng cấp năng lực công nghiệp, làm chủ công nghệ và mở rộng không gian phát triển trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.
Khi thể chế được khơi thông, doanh nghiệp phát huy được nội lực và các nguồn lực mới được khai thác hiệu quả, ngành dầu khí có thể tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng và tạo động lực tăng trưởng xanh.
