Chăm sóc sức khỏe nữ công nhân môi trường: Từ nhận diện rủi ro đến hành động tích cực

Tại tọa đàm “Đưa dịch vụ y tế đến với nữ công nhân môi trường”, Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy, giảng viên Tổ chuyên môn Sức khỏe an toàn nghề nghiệp, Trường Đại học Y tế công cộng đã phân tích sâu sắc thực trạng và đưa ra những giải pháp căn cơ nhằm lấp đầy khoảng trống trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nữ công nhân vệ sinh môi trường.

Khoảng trống trong nhận thức về sức khỏe

Theo báo cáo nghiên cứu xã hội học gần đây, nữ công nhân môi trường tại Hà Nội có nhận thức khá nhạy bén đối với các nguy cơ thể chất hữu hình, dễ quan sát. Cụ thể, có tới 79,1% chị em nhận diện được rủi ro về tổn thương cơ xương khớp; 76,5% lo ngại lây nhiễm vi sinh vật từ rác thải; 65,7% nhận biết ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt và 58,2% cảnh giác với tai nạn thương tích.

Thế nhưng, đối với các yếu tố nguy cơ vô hình hoặc mang tính xã hội, tỷ lệ nhận diện lại thấp ở mức đáng báo động: Chỉ 21,9% công nhân nhận thức được trạng thái kiệt sức, 10,1% chú ý tới nguy cơ quấy rối tình dục và vỏn vẹn 9,2% nhận diện được căn bệnh stress.

Ban tổ chức tặng hoa các diễn giả tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Ban tổ chức tặng hoa các diễn giả tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Bình luận về những con số này, Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy nhận định, đây là minh chứng rõ nét cho thấy một khoảng trống lớn trong nhận thức về sức khỏe nghề nghiệp. Sức khỏe nghề nghiệp chuẩn mực không chỉ dừng lại ở việc người lao động có bị thương hay mắc bệnh lý thể chất cấp tính hay không, mà sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội phải được coi là những bộ phận cấu thành bình đẳng.

Do các áp lực tâm lý hay tình trạng kiệt sức không gây ra hậu quả ngay lập tức, nhiều nữ công nhân có xu hướng coi đó là vấn đề nhỏ, chịu đựng âm thầm mà không tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn.

Đặc biệt, nếu nhìn nhận hoàn cảnh của nữ công nhân môi trường một cách toàn diện, áp lực của họ bị nhân lên gấp bội. Họ không chỉ làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại mà khi trở về nhà còn phải gánh vác nuôi dạy con cái, chăm sóc người cao tuổi và quán xuyến gia đình. Sự cộng hưởng giữa áp lực lao động và gánh nặng gia đình gia tăng nguy cơ mệt mỏi kéo dài, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và cản trở khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế.

Một thông tin được đưa ra trong nghiên cứu là, có tới 72,9% nữ công nhân tự đánh giá tình trạng sức khỏe thể chất của mình ở mức tích cực (bình thường hoặc khỏe). Nhưng khi đi sâu vào khảo sát triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ chị em đang phải chịu đựng các tổn thương thực thể kéo dài hoặc tái phát lại rất cao: 61,4% mắc bệnh cơ xương khớp; 45,4% gặp vấn đề về hô hấp và 20,3% bị viêm nhiễm ngoài da.

Các diễn giả tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Các diễn giả tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Theo Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy, nếu chỉ dùng các câu hỏi chung chung như “Chị có khỏe không?”, chúng ta sẽ bỏ sót rất nhiều nguy cơ bệnh tật. Nhiều nữ công nhân vẫn hằng ngày ra ca, tự cho rằng mình khỏe mạnh nhưng thực chất đang âm thầm sống chung với cơn đau lưng, đau vai gáy, ho kéo dài hay dị ứng da. Việc tiếp xúc với môi trường ô nhiễm trong thời gian dài khiến nữ công nhân môi trường rơi vào trạng thái “quen với bệnh tật”, ngẫu nhiên thừa nhận các triệu chứng đó như một điều bình thường.

Đáng lo ngại hơn khi có tới 94,8% nữ công nhân môi trường Hà Nội cho rằng, các rủi ro sức khỏe là “hệ quả tất yếu” của đặc thù công việc. Góc nhìn này cho thấy tâm lý chấp nhận rủi ro đã ăn sâu vào suy nghĩ của người lao động. Trong khi đó, nguyên tắc cốt lõi của an toàn, vệ sinh lao động là phải nhận diện, đánh giá và kiểm soát các yếu tố có hại ngay tại nguồn, ưu tiên cải thiện tổ chức lao động thay vì phó mặc cho khả năng tự chống chọi của công nhân.

Chuyển sang mô hình theo dõi, phòng ngừa liên tục

Để khắc phục những hạn chế nói trên và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nữ công nhân môi trường, Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy cho rằng, các doanh nghiệp môi trường đô thị (như Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội - URENCO) cần nhanh chóng triển khai các giải pháp mang tính tổng thể và đột phá.

Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy trao đổi tại tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Trước hết, cần mở rộng các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động theo hướng tích hợp. Bên cạnh việc duy trì hướng dẫn sử dụng trang thiết bị bảo hộ cá nhân, phòng chống tai nạn và giữ gìn vệ sinh, doanh nghiệp cần đưa nội dung truyền thông về nhận diện căng thẳng tâm lý, phòng chống kiệt sức, phòng ngừa quấy rối tình dục tại nơi làm việc vào chương trình đào tạo chính thức. Đồng thời, cung cấp cho chị em các kênh tiếp nhận thông tin và tư vấn tâm lý tin cậy khi gặp khủng hoảng.

Thứ hai, doanh nghiệp không thể chỉ yêu cầu người lao động tự điều chỉnh hay “cố gắng chịu đựng tốt hơn”, mà phải chủ động cải thiện điều kiện làm việc thực tế. Cần rà soát toàn bộ quy trình tổ chức lao động, phân bổ thời gian làm việc, khối lượng công việc, ca nghỉ ngơi, điểm cung cấp nước uống hợp lý. Đồng thời, đánh giá lại tính phù hợp của các trang thiết bị bảo hộ, đặc biệt là bảo hộ lao động phải đảm bảo độ thoáng khí, bảo vệ tốt đường hô hấp và da trong điều kiện biến đổi khí hậu khốc liệt.

Việc URENCO và các đơn vị đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thay thế thu gom thủ công bằng xe đẩy cơ giới, xe gom rác chạy điện là bước đi rất tích cực, giúp giảm thiểu rõ rệt tải trọng lao động thể lực và nguy cơ mắc bệnh cơ xương khớp.

Thứ ba, cần cải tổ công tác khám sức khỏe định kỳ theo hướng chất lượng và phát hiện sớm. Hoạt động khám định kỳ phải kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác tiền sử nghề nghiệp, yếu tố tiếp xúc thực tế và triệu chứng lâm sàng kéo dài. Ngay khi phát hiện công nhân có dấu hiệu bất thường về cơ xương khớp, hô hấp hay da liễu, cần tư vấn và chuyển tuyến khám chuyên khoa kịp thời.

Quang cảnh tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Quang cảnh tọa đàm. Ảnh: Khánh Huy

Cuối cùng, cần chủ động xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và hệ thống y tế, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở. Hiện tại, phần lớn nữ công nhân đã từng sử dụng bảo hiểm y tế (BHYT) và đánh giá việc tiếp cận cơ sở khám chữa bệnh có BHYT là thuận tiện cho thấy BHYT đã đóng vai trò thiết thực trong chăm sóc sức khỏe của người lao động.

“Tôi nghĩ rằng vấn đề không chỉ là vận động công nhân đến trạm y tế nhiều hơn. Điều quan trọng là người lao động phải biết trạm y tế có thể hỗ trợ những gì, khi nào nên đến, dịch vụ nào được cung cấp và làm thế nào để tiếp tục được giới thiệu khi cần khám chuyên sâu. URENCO có thể phối hợp với cơ quan y tế địa phương để xây dựng các hoạt động truyền thông hướng dẫn sử dụng dịch vụ, hỗ trợ đặt lịch hoặc kết nối tư vấn phù hợp với thời gian làm việc của công nhân. Các hoạt động này cần được triển khai trên cơ sở chức năng, năng lực chuyên môn và quy định của từng cơ sở y tế”, Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy nhấn mạnh.

Nữ công nhân môi trường Hà Nội đóng góp vì môi trường xanh của Thủ đô. Ảnh: URENCO

Nữ công nhân môi trường Hà Nội đóng góp vì môi trường xanh của Thủ đô. Ảnh: URENCO

Theo Tiến sĩ Trần Thị Thu Thủy, bảo vệ sức khỏe cho nữ công nhân môi trường chính là bảo vệ nguồn lực lao động quý giá, góp phần xây dựng một Thủ đô Hà Nội không chỉ xanh, sạch, đẹp mà còn đong đầy giá trị nhân văn và phát triển bền vững.

Công Phương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/cham-soc-suc-khoe-nu-cong-nhan-moi-truong-tu-nhan-dien-rui-ro-den-hanh-dong-tich-cuc-1757961.html