Chào Bính Ngọ - Năm của hành động
Bước sang năm mới 2026, Việt Nam không còn đứng ở ngưỡng chuẩn bị. Chúng ta đã bước hẳn vào chặng đường thực thi sau Đại hội XIV – nơi những mục tiêu lớn bắt đầu được kiểm nghiệm bằng hành động cụ thể.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 là một tuyên bố mạnh mẽ. Nó phát đi thông điệp rất rõ: đất nước không chấp nhận đi chậm trong giai đoạn bản lề.
Nhưng tăng trưởng cao không phải là câu chuyện của quyết tâm hay khẩu hiệu. Nó là bài toán của năng lực quốc gia: năng lực thể chế, năng lực tổ chức thực thi và năng lực huy động, giải phóng nguồn lực xã hội.
Vì thế, câu hỏi quan trọng nhất khi bước vào năm 2026 là: Việt Nam đang đứng ở đâu trên đường băng tăng trưởng – và đã chuẩn bị đủ tốt cho cú cất cánh ấy chưa?
Thuận lợi và thách thức đan xen
Bước vào năm 2026, nền kinh tế đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi hiếm có, nếu nhìn một cách tỉnh táo và công bằng.
Về phía khách quan, bối cảnh quốc tế dù còn nhiều bất định nhưng cũng mở ra những cơ hội mới. Tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, chuyển dịch đầu tư khỏi các trung tâm truyền thống tiếp tục đặt Việt Nam vào nhóm nền kinh tế được quan tâm.
Quy mô thị trường hơn 100 triệu dân, vị trí địa kinh tế thuận lợi cùng mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tạo ra lợi thế mà không phải quốc gia đang phát triển nào cũng có.

Nếu phải gọi tên tinh thần hành động của năm 2026 trong một câu ngắn, thì đó là: làm ngay những việc khó nhưng bắt buộc
Cuộc cách mạng công nghệ – từ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo – cũng mở ra khả năng “đi tắt, đón đầu” cho những nền kinh tế biết tận dụng thời điểm. Với dân số trẻ, khả năng tiếp cận công nghệ nhanh và tinh thần khởi nghiệp mạnh, Việt Nam không thiếu tiềm năng để tham gia sâu hơn vào làn sóng này.
Về phía chủ quan, sau Đại hội XIV, mục tiêu phát triển đã được xác lập rõ ràng và nhất quán ở cấp cao nhất. Đặc biệt, trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy hoạch định sang tư duy thực thi, từ nói đúng sang làm đến nơi đến chốn; coi hiệu quả và sự hài lòng của nhân dân là thước đo cao nhất của mọi chính sách.
Thông điệp ấy tạo ra một điểm tựa chính trị quan trọng cho cải cách: phát triển để ổn định, lấy kết quả thực chất làm chuẩn đánh giá, không chấp nhận cải cách hình thức.
Tuy nhiên, khó khăn cũng không hề nhỏ và cần được nhìn thẳng để tránh tâm lý mơ hồ.
Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm hơn, lãi suất cao hơn so với giai đoạn trước; chủ nghĩa bảo hộ quay trở lại dưới nhiều hình thức tinh vi. Không gian chính sách tiền tệ và tài khóa không còn rộng rãi như những năm khủng hoảng do đứt gãy chuỗi cung ứng và đại dịch Covid-19.
Đáng lo hơn, những thách thức lớn lại nằm ở bên trong. Những điểm nghẽn thể chế kéo dài chưa được tháo gỡ triệt để. Năng lực tổ chức thực thi giữa các cấp còn chênh lệch. Tâm lý sợ sai, né trách nhiệm vẫn tồn tại ở một bộ phận của bộ máy, khiến không ít quyết sách đúng bị chậm lại khi đi vào đời sống.
Năng suất lao động tăng chậm. Doanh nghiệp tư nhân thiếu lực tích tụ. Đổi mới sáng tạo chưa trở thành động cơ chủ đạo. Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, mỗi điểm tăng trưởng mới đòi hỏi chi phí cao hơn, trong khi dư địa của các động lực cũ đang dần cạn.
Chính trong bối cảnh đan xen giữa thuận lợi và thách thức ấy, mục tiêu tăng trưởng 10% không thể được hiểu theo nghĩa đơn giản. Nó không phải là lời cam kết dễ dãi, mà là phép thử nghiêm khắc đối với năng lực cải cách và bản lĩnh hành động của cả hệ thống.
Trong tương quan quốc tế, mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam vừa đáng khát vọng, vừa đầy thách thức. GDP bình quân đầu người hiện mới ở mức khoảng 5.000 USD, mục tiêu đến năm 2030 là khoảng 8.500 USD – một ngưỡng rất gần với “vùng nguy hiểm” của bẫy thu nhập trung bình, nơi nhiều nền kinh tế đã chững lại khi không kịp đổi mô hình tăng trưởng.
Bài học vì thế không nằm ở việc đạt 10% trong một vài năm, mà ở khả năng kéo tốc độ cao đó trong thời gian đủ dài. Và điều này chỉ có thể đạt được nếu nền kinh tế rời khỏi quỹ đạo tăng trưởng cũ – dựa vào vốn, tín dụng và lao động giá rẻ – để đi vào con đường dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nguồn lực trong dân không thiếu
Khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành trụ cột thực sự của nền kinh tế, đóng góp hơn một nửa GDP và hơn 80% việc làm. Nếu Việt Nam tăng trưởng cao và bền vững, điều đó trước hết phải diễn ra trong khu vực này.
Nhưng thực tế là doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn nhỏ, manh mún, khó tích tụ. Doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư dài hạn, dẫn dắt công nghệ và đổi mới còn hiếm. Năng suất lao động tăng chậm; mỗi điểm tăng trưởng mới ngày càng “đắt”. Kinh tế số chưa đủ lớn để gánh vai trò động lực chính, dù tiềm năng là rất rõ.
Nguồn lực trong dân vì thế không thiếu, vấn đề là nó đang nằm yên trong trạng thái phòng thủ. Khi lòng tin kinh doanh không được bồi bổ, khi rủi ro bị “thổi phồng” bởi bất định chính sách và pháp lý, thì thay vì đầu tư và sáng tạo, nguồn lực ấy sẽ chọn cách đứng ngoài cuộc.
Những ách tắc chính sách vì thế không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà chạm trực tiếp tới niềm tin xã hội.
Một nền kinh tế, suy cho cùng, giống như một cơ thể sống. Hàng hóa là máu, doanh nghiệp là mạch máu, còn chính sách là những chiếc van điều tiết. Van mở đúng lúc thì dòng chảy thông suốt; van đóng sai nhịp thì cả hệ thống tắc nghẽn.
Những gì diễn ra quanh Nghị định 46 thời gian qua cho thấy một thực tế không dễ chịu: đôi khi chính sách – vốn được thiết kế để quản lý rủi ro – lại trở thành rủi ro đối với sản xuất, kinh doanh và sinh kế của người dân.
Trong một nền kinh tế vận hành theo giờ và theo ngày, chỉ một nút thắt sai chỗ cũng đủ làm nghẽn cả dòng chảy.
Nghị quyết 66 vì thế không chỉ là một chỉnh sửa kỹ thuật trong làm luật, mà là lời cảnh tỉnh về tư duy quản trị: không thể tiếp tục coi “cấm cho an toàn” là lựa chọn mặc định. Trong một nền kinh tế mở, pháp luật phải học cách mở đường cho dòng chảy hợp pháp vận động, thay vì khóa chặt nó trong nỗi sợ rủi ro.
Giữ được lòng dân là giữ được tất cả
Nếu phải gọi tên tinh thần hành động của năm 2026 trong một câu ngắn, thì đó là: làm ngay những việc khó nhưng bắt buộc.
Đó là cắt bỏ những thủ tục không cần thiết nhưng vẫn tồn tại vì thói quen; là chuyển thực chất từ tiền kiểm sang hậu kiểm thay vì chỉ thay đổi câu chữ; là phân quyền rõ hơn cho địa phương đi kèm trách nhiệm giải trình đến cùng, để người dám quyết không bị treo giữa rủi ro và im lặng.
Tăng trưởng 10% đến từ hàng nghìn quyết định rất cụ thể mỗi ngày ở các bộ, ngành và địa phương. Năm 2026 vì thế không chỉ là năm của mục tiêu cao, mà là năm thử lửa đầu tiên của năng lực tổ chức thực thi trong toàn hệ thống.
Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của giai đoạn mới, như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, là: hiệu quả phát triển phải được đo bằng lợi ích và sự hài lòng của nhân dân.
Người dân “đọc” chính sách qua từng lần đi làm thủ tục, từng bộ hồ sơ đất đai, từng khoản học phí đầu năm học, từng cơ hội làm ăn có đến hay không. Khi ấy, mọi khái niệm lớn đều trở nên giản dị: chính sách đúng là chính sách làm cho cuộc sống nhẹ hơn; cải cách thật là cải cách giúp người dân bớt lo hơn.
Nhân năm mới 2026, chúng ta cần đi nhanh hơn, nhưng đi đúng hướng; cải cách đủ sâu để tạo năng lực thật; và đặt người dân vào trung tâm của mọi quyết định phát triển. Bởi trong mọi giai đoạn phát triển, giữ được lòng dân là giữ được tất cả.
Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/chao-binh-ngo-nam-cua-hanh-dong-2491003.html












