Chế biến sâu vải thiều: Giảm áp lực tiêu thụ, tăng giá trị
Từ nhiều năm nay, phát triển công nghiệp chế biến nông sản luôn được tỉnh Bắc Ninh đặc biệt quan tâm. Khi được chế biến sâu, nông sản có thể bảo quản lâu hơn, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị kinh tế.
Tuy vậy, dù sở hữu nguồn nguyên liệu dồi dào song trên địa bàn tỉnh chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia chế biến nông sản. Mỗi mùa vải thiều đến, câu chuyện thu mua, chế biến lại trở thành vấn đề được quan tâm bởi đây được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị cho sản phẩm.
Hiệu quả rõ nét
Mỗi năm, Bắc Ninh sản xuất hàng triệu tấn nông sản, trong đó vải thiều đạt từ 120 đến hơn 200 nghìn tấn. Tổng doanh thu từ vải thiều và các dịch vụ phụ trợ thường đạt trên 6 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, phần lớn sản lượng vẫn được tiêu thụ dưới dạng quả tươi. Do thời gian thu hoạch, tiêu thụ chỉ tập trung trong khoảng 45 ngày nên áp lực đầu ra rất lớn.

Sơ chế vải thiều tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu.
Để nâng cao giá trị sản phẩm, một số hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đã đầu tư nhà xưởng, máy móc chế biến vải thành các sản phẩm như vải sấy khô, vải đóng hộp, nước ép, giấm vải và một số sản phẩm phụ khác.
Ông Vi Thành Luân, tổ dân phố Hăng Bông (phường Chũ) cho biết, nguyên liệu làm vải sấy chủ yếu là những quả có mẫu mã không đẹp nhưng chất lượng vẫn bảo đảm. Sau khi chế biến, giá trị sản phẩm tăng đáng kể, đồng thời tận dụng được nguồn nguyên liệu khó tiêu thụ tươi, tạo thêm việc làm và thu nhập cho lao động địa phương.
Vải thiều là cây ăn quả đặc trưng, được trồng trên diện tích khoảng 29.800 ha, chiếm hơn 60% diện tích cây ăn quả toàn tỉnh. Năm 2026, sản lượng vải ước đạt khoảng 125 nghìn tấn. Đến nay, Bắc Ninh có 17.500 ha vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; 255 ha đạt tiêu chuẩn GlobalGAP và 10 ha đạt chứng nhận hữu cơ.
Hiện nay, Bắc Ninh có 3 doanh nghiệp chế biến vải thiều gồm Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco và Công ty trách nhiệm hữu hạn Hero Green. Các đơn vị này tập trung sản xuất vải đóng hộp, vải đông lạnh và vải nguyên quả cấp đông nhanh, giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực tiêu thụ lúc chính vụ.
Ông Nguyễn Xuân Việt, Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco nhận định, các sản phẩm chế biến từ vải thiều cũng như nhiều loại nông sản khác có tiềm năng lớn. Nếu được đầu tư đồng bộ về công nghệ và bảo quản, giá trị sản phẩm sau chế biến có thể tăng từ 30-50% so với tiêu thụ tươi truyền thống.
Không chỉ gia tăng giá trị hàng hóa, hoạt động chế biến còn tạo việc làm cho lao động địa phương. Riêng 3 doanh nghiệp chế biến vải xuất khẩu trên địa bàn đã tạo việc làm thời vụ cho gần 500 lao động với thu nhập từ 350 - 500 nghìn đồng/người/ngày trong giai đoạn cao điểm.
Cần liên kết chặt chẽ
Mặc dù mang lại nhiều lợi ích, lượng vải thiều được chế biến vẫn còn khá khiêm tốn. Bình quân mỗi năm, toàn tỉnh chỉ có khoảng 10 - 15 nghìn tấn vải được sấy khô, tương đương 2 - 3 nghìn tấn thành phẩm. Lượng vải đóng hộp phục vụ xuất khẩu dao động từ 4 - 5 nghìn tấn/năm. Như vậy, tổng sản lượng vải qua chế biến mới chỉ chiếm khoảng 10%.

Chế biến vải đóng hộp tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Hero Green.
Nguyên nhân trước hết là do công suất chế biến còn hạn chế trong khi thời gian thu hoạch ngắn. Bên cạnh đó, mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với người trồng vải chưa thực sự bền chặt.
Thực tế cho thấy, những năm sản lượng thấp hoặc giá vải tươi tăng cao, nhiều nhà vườn ưu tiên bán ra thị trường thay vì thực hiện các thỏa thuận cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp. Điều này khiến nhiều nhà máy thiếu nguồn nguyên liệu chế biến.
Nhằm thúc đẩy chế biến sâu, thời gian qua, tỉnh đã đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, nguồn vốn và đầu tư thiết bị. Nhiều doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng kho lạnh, lắp đặt máy sấy lạnh và dây chuyền đóng hộp hiện đại nhằm nâng cao năng lực bảo quản, chế biến. Thế nhưng ngoài 3 doanh nghiệp hiện có, tỉnh vẫn chưa thu hút thêm được nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
Theo ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu, nguyên nhân chủ yếu là vốn đầu tư lớn, mùa thu hoạch sản phẩm rất ngắn. Ông Hưng cho rằng, vào những năm được mùa, tỉnh cần chủ động kết nối các doanh nghiệp chế biến trong cả nước với các thương nhân và vùng nguyên liệu tại địa phương. Nếu làm tốt khâu liên kết, riêng các doanh nghiệp chế biến trong nước cũng có thể tiêu thụ từ 40 - 50 nghìn tấn vải mỗi vụ.
Một khó khăn khác là giá nguyên liệu chưa ổn định. Ông Trần Việt Sỹ, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Hero Green nhìn nhận, để chế biến sâu bền vững, cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người sản xuất thông qua các hợp đồng dài hạn. Giá thu mua phải bảo đảm người dân có lợi nhuận hợp lý, đồng thời doanh nghiệp cũng duy trì được hiệu quả sản xuất, tránh tình trạng phá vỡ cam kết khi giá thị trường biến động.

Sản phẩm vải thiều tươi Phúc Hòa được cấp đông, đóng gói tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vifoco.
Có thể nói, áp dụng công nghệ chế biến sâu tiếp tục được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào thị trường quả tươi. Muốn vậy, cần xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân; bảo đảm quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và duy trì mức giá nguyên liệu ổn định.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp và người sản xuất, tỉnh cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn thu mua, đầu tư hạ tầng kho lạnh, bảo đảm nguồn điện ổn định, tăng cường xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu. Dành thêm nguồn lực cho hoạt động khuyến công, hỗ trợ đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực chế biến.
Khi những "mắt xích" từ sản xuất, thu mua đến chế biến được kết nối chặt chẽ, vải thiều Bắc Ninh sẽ không chỉ là sản phẩm tiêu thụ theo mùa vụ mà còn trở thành nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến hiện đại.











