Chênh lệch tín dụng - huy động thu hẹp xuống 2,48 triệu tỷ, dự báo chi phí vốn tạo đỉnh trong quý IV
VDSC ước tính chênh lệch tuyệt đối giữa dư nợ tín dụng và huy động đã giảm xuống khoảng 2,48 triệu tỷ đồng, từ mức đỉnh khoảng 2,80 triệu tỷ đồng cuối tháng 7/2026. Động lực chính đến từ việc tăng tốc giải ngân đầu tư công kết hợp các chính sách hoãn, giãn thuế của Chính phủ bắt đầu phát huy hiệu quả.
Cho vay xây dựng dẫn dắt tăng trưởng tín dụng
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) thống kê từ 28 ngân hàng niêm yết trong hệ thống cho thấy tổng lợi nhuận trước thuế quý III đạt gần 107.000 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ 2025. Lũy kế 9 tháng, tổng lợi nhuận trước thuế đạt gần 313.000 tỷ đồng, tăng 21%, hoàn thành khoảng 74% kế hoạch cả năm.
Tăng trưởng tín dụng tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng của lợi nhuận toàn ngành. Tại cuối quý III/2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,6% so với đầu năm, trong đó nhóm ngân hàng niêm yết ghi nhận tăng trưởng tín dụng 12,6%, cao hơn mức tăng toàn hệ thống.

Ảnh: VDSC
Sự phân hóa về tốc độ tăng trưởng tín dụng giữa các nhóm ngân hàng tiếp tục rõ nét trong quý III với nhóm ngân hàng TMCP quy mô lớn ghi nhận tín dụng tăng 18,6% kể từ đầu năm, gấp hơn 2 lần nhóm quốc doanh (7,9%) và cao hơn đáng kể nhóm quy mô trung bình (10,2%).
Dẫn đầu ngành về tốc độ tăng tín dụng vẫn là các ngân hàng có lợi thế "room" nhờ nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém như HDBank (tín dụng tăng 28,5% so với đầu năm), VPBank (28,1%), MB (18,9%). Ngoài ra, các ngân hàng có giải ngân cho các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm quốc gia được loại trừ khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng cũng có tăng trưởng tín dụng cao so với trung bình ngành như Techcombank (16,7%), LPBank (22,9%).
Mặt khác, nhóm quốc doanh tăng trưởng thận trọng, bám sát định hướng điều hành của NHNN (Vietcombank ghi nhận tín dụng tăng 8,4%, BIDV tăng 8,0%, VietinBank tăng 7,4%).
Nhóm tăng trưởng chậm hơn là VIB (7,7%) và SHB (9,5%); trong khi Eximbank báo tín dụng giảm 15,3% so với đầu năm.
Theo kỳ hạn, tăng trưởng tín dụng tiếp tục nghiêng về trung và dài hạn, với mức tăng lần lượt 16,4% và 15,1% kể từ đầu năm, cao hơn đáng kể so với mức 9,8% của cho vay ngắn hạn.
Theo nhóm ngành, cơ cấu tăng trưởng tín dụng đã thay đổi rõ nét trong quý III với tín dụng xây dựng tăng vọt 15,5% so với cuối quý II, nâng mức tăng từ đầu năm lên 25,4%, phù hợp với thực trạng giải ngân đầu tư công tăng tốc.
Ngược lại, tín dụng kinh doanh BĐS gần như đi ngang trong quý này (+0,9% so với quý II) sau giai đoạn tăng mạnh trong nửa đầu năm, phản ánh tác động từ định hướng kiểm soát tín dụng BĐS của NHNN. Lũy kế 9 tháng, tín dụng kinh doanh BĐS tăng 22,3%.
Tín dụng dịch vụ tài chính tiếp tục tăng mạnh (41,5% kể từ đầu năm), trong khi cho vay sản xuất đi ngang so với quý II và tăng 12,5% so với đầu năm. Các lĩnh vực khách sạn, logistics, nông nghiệp giảm nhẹ so với cuối quý II.
Nhìn chung, tín dụng quý III tăng tốc với động lực đến từ các khoản vay kỳ hạn trung - dài, với sự chuyển dịch từ cho vay BĐS sang xây dựng và tiêu dùng.
VDSC lưu ý rằng mức tăng đột biến của tín dụng xây dựng trong bối cảnh tín dụng BĐS bị kiểm soát chặt cần được theo dõi thêm, do một phần dư nợ liên quan đến chuỗi giá trị BĐS có thể được ghi nhận vào nhóm xây dựng. Song song, tốc độ mở rộng tín dụng cao trong bối cảnh nợ xấu và nợ nhóm 2 hình thành ròng tăng mạnh là điểm cần tiếp tục theo dõi trong các quý tới.
Chênh lệch tín dụng - huy động thu hẹp xuống 2,48 triệu tỷ
Về phía huy động, tăng trưởng huy động toàn hệ thống tính tới cuối tháng 9/2026 đạt 10,6% so với đầu năm theo số liệu của NHNN, chỉ còn thấp hơn tăng trưởng tín dụng cùng thời điểm (11,6%) khoảng 1,0 điểm %. Mức chênh lệch thu hẹp đáng kể so với mức 3,3 điểm % hồi cuối quý II.
VDSC ước tính chênh lệch tuyệt đối giữa dư nợ tín dụng và huy động theo đó đã giảm xuống khoảng 2,48 triệu tỷ đồng, từ mức đỉnh khoảng 2,80 triệu tỷ đồng cuối tháng 7/2026. Nhóm phân tích cho rằng động lực chính đến từ việc tăng tốc giải ngân đầu tư công kết hợp các chính sách hoãn, giãn thuế của Chính phủ bắt đầu phát huy hiệu quả.
Với nhóm ngân hàng niêm yết, tổng huy động tăng 13,0% so với đầu năm (trong đó tiền gửi KH tăng 10,6%, phát hành GTCG tăng 31%), vượt tốc độ tăng tín dụng là 12,6% so với mức thấp hơn 2,4 điểm % tại cuối quý II.

Ảnh: VDSC
Mức độ phân hóa về huy động giữa các ngân hàng vẫn sâu sắc: nhóm ngân hàng TMCP quy mô lớn ghi nhận huy động tăng 19,8% kể từ đầu năm, trong khi nhóm quy mô trung bình tăng 12,0% và nhóm quốc doanh tăng 7,4%.
Sự cải thiện về huy động cũng đi kèm lãi suất huy động tiếp tục tăng trong quý III (+0,45 điểm % lên 4,29% tại nhóm quốc doanh, +0,4 điểm % lên 5,68% tại nhóm quy mô lớn và +0,25 điểm % lên 5,81% tại nhóm quy mô trung bình), nâng tổng mức tăng lãi suất huy động từ đầu năm lên 1,2-1,66 điểm % tùy nhóm ngân hàng. Trong khi đó, tỷ lệ CASA toàn ngành giảm xuống 20,2% từ mức 20,7% của quý II.
Áp lực thanh khoản dự báo tiếp tục hạ nhiệt trong quý IV
Bên cạnh diễn biến chênh lệch tín dụng - huy động hạ nhiệt, VDSC chỉ ra rằng áp lực thanh khoản đã giảm bớt khi ngân sách chuyển sang trạng thái bội chi trong quý III: bội thu NSNN lũy kế giảm từ khoảng 419.000 tỷ đồng cuối quý II xuống khoảng 313.600 tỷ đồng cuối quý III – tương ứng mức bội chi hơn 105.000 tỷ đồng trong quý – nhờ chi đầu tư phát triển 9 tháng tăng mạnh 49% so với cùng kỳ.
Cùng chiều, tiền gửi KBNN tại các ngân hàng niêm yết giảm khoảng 35.000 tỷ đồng so với quý II xuống khoảng 529.000 tỷ đồng, cân đối với dòng tiền ngân sách đã bắt đầu quay trở lại nền kinh tế.
Cùng với diễn biến huy động cải thiện trên đây, tỷ lệ LDR của phần lớn ngân hàng giảm nhẹ hoặc đi ngang trong quý III, rõ nét nhất tại Sacombank (ước tính giảm khoảng 0,08 điểm % xuống quanh 75%), TPBank (-0,06 điểm %), OCB (- 0,04 điểm %) và VPBank (-0,02 điểm %). Tuy nhiên, LDR ước tính của MB (83,6%) và VietinBank (83,2%) vẫn neo sát ngưỡng tối đa 85%.
Trên thị trường liên ngân hàng, thanh khoản hệ thống cải thiện rõ nét trong quý III/2026.
NHNN hút ròng khoảng 99.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong quý, đưa quy mô lưu hành giảm từ khoảng 245.000 tỷ đồng cuối quý II xuống khoảng 150.000 tỷ đồng cuối quý III; dù vậy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm (bình quân 5 ngày) vẫn giảm từ khoảng 5,5% trong tháng 6 xuống 4,4% vào tháng 7, 4,2% vào tháng 8 và 3,3% vào tháng 9.
Trong khi đó, doanh số giao dịch liên ngân hàng bình quân tăng lên khoảng 1,07 triệu tỷ đồng/ngày (so với mức khoảng 860.000 tỷ đồng/ngày của quý II). Diễn biến này phù hợp với việc ngân sách chuyển sang bội chi và tiền gửi dân cư tăng tích cực hơn, qua đó giảm nhu cầu vay mượn của các ngân hàng trên thị trường 2.
Tuy nhiên, từ giữa tháng 10/2026, lãi suất qua đêm đã tăng trở lại quanh 4,5% khi quy mô OMO lưu hành tiếp tục thu hẹp về khoảng 109.000 tỷ đồng, cho thấy thanh khoản không quá dồi dào khi các ngân hàng bước vào giai đoạn cao điểm tín dụng cuối năm.
Nhìn về quý cuối năm, VDSC kỳ vọng áp lực thanh khoản nhìn chung tiếp tục hạ nhiệt nhờ tiến độ giải ngân đầu tư công thường được đẩy nhanh vào quý cuối năm và định hướng giảm mặt bằng lãi suất của NHNN, hàm ý chi phí vốn nhiều khả năng tạo đỉnh trong quý IV. Dù vậy, độ trễ trong tái định giá tiền gửi có kỳ hạn sẽ khiến chi phí vốn chỉ giảm dần.


