Chỉ 1,5% sản phẩm khoa học công nghệ được thương mại hóa

Dù khung pháp lý đã mở rộng quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường vẫn còn rất lớn khi tỷ lệ sản phẩm khoa học công nghệ được thương mại hóa thực tế mới chỉ đạt khoảng 1,5%.

Thực trạng này đã được nêu rõ tại hội thảo "Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo" năm 2026 diễn ra chiều 3/10 tại Hà Nội.

Ông Phạm Việt Hồng - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.

Ông Phạm Việt Hồng - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.

Theo ông Phạm Việt Hồng – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ đã tương đối hoàn thiện như cho phép tổ chức chủ trì tự quyết định giá, quy định phương thức thương mại hóa. Bên cạnh đó, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 quy định khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi ích, tổ chức trung gian tối thiểu là 10%.

Mặc dù vậy, việc đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống, sản xuất thực tế vẫn gặp nhiều lực cản. Theo kết quả rà soát của Bộ Khoa học và Công nghệ tại 34 tỉnh, thành phố, tính từ năm 2025 có 751 nhiệm vụ và 728 sản phẩm khoa học, công nghệ đang được triển khai, cùng 280 sản phẩm dự kiến thực hiện trong năm 2026.

Tuy nhiên, số lượng kết quả nghiên cứu đi được tới công đoạn thương mại hóa lại rất khiêm tốn. Chỉ có 58 nhiệm vụ (tương đương 7,7%) đã hoàn thành và có khả năng thương mại hóa. Và chỉ có 11 sản phẩm (chiếm vỏn vẹn 1,5%) đã và đang được thương mại hóa trên thị trường.

“Thực tế trên phản ánh khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn rất lớn, trong đó doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo”, ông Hồng nhận định.

Theo Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, có 4 nguyên nhân dẫn tới tình trạng thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu “bị vướng”.

Đầu tiên là sự lúng túng trong định giá và xác định quyền sở hữu. Các địa phương hiện gặp nhiều khó khăn khi định giá công nghệ, định giá quyền sở hữu trí tuệ và lựa chọn hình thức chuyển giao, đặt hàng sản phẩm.

Cùng với đó, các nghiên cứu chưa bám sát nhu cầu thực tế. Nhiều đề tài mang tính khoa học cao nhưng chưa xuất phát từ bài toán của thị trường. Nhiều sản phẩm đã nghiệm thu nhưng thiếu địa chỉ tiếp nhận; các mô hình thử nghiệm còn nhỏ lẻ, chưa đánh giá đầy đủ thông số kỹ thuật, điều kiện áp dụng và hiệu quả kinh tế - xã hội.

Sự thiếu chủ động của doanh nghiệp trong việc tham gia ngay từ đầu để cùng đặt bài toán, cùng đầu tư và cùng chia sẻ rủi ro cũng khiến việc thương mại hóa gặp trở ngại. Nhiều sản phẩm sau khi hoàn thiện chưa có kênh kết nối hiệu quả với doanh nghiệp tại thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, hiện nay vẫn chưa có cơ chế thu hút doanh nghiệp (đặc biệt là khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) đồng tài trợ nghiên cứu hay tiếp nhận công nghệ.

Nguyên nhân cuối cùng là hạ tầng thị trường và tổ chức trung gian còn yếu. Các sàn giao dịch công nghệ và tổ chức định giá hoạt động chưa đủ mạnh. Điển hình như Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận 62 đề xuất hỗ trợ định giá, nhưng chỉ có 5 trường hợp thực sự mong muốn được hỗ trợ trực tiếp. Theo ông Việt, nhiều doanh nghiệp chưa tìm được đối tác thương mại hóa nên chưa triển khai tới bước định giá.

Để thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, ông Việt nhấn mạnh giải pháp trọng tâm là phải đưa mô hình liên kết "ba nhà" (Nhà nước - Viện trường/Nhà khoa học - Doanh nghiệp) đi vào thực chất. Trong đó, nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng, đặt hàng và mở rộng thị trường. Các viện, trường tập trung tạo ra tri thức, công nghệ chất lượng cao và sẵn sàng chuyển giao. Doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường, đặt bài toán thực tế, đồng đầu tư, hấp thụ và nhân rộng công nghệ.

Ngoài ra, tổ chức trung gian cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ và đưa sản phẩm ra thị trường.

Hiền Thảo

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/cong-nghe/chi-1-5-san-pham-khoa-hoc-cong-nghe-duoc-thuong-mai-hoa/20261003042945623