Chỉ còn một phương thức tuyển sinh Đại học: Nên hay không?

Đề xuất từ năm 2028 mỗi ngành đào tạo đại học chỉ sử dụng một phương thức xét tuyển đang thu hút nhiều ý kiến trái chiều. Trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo kỳ vọng việc tinh gọn sẽ tăng công bằng, minh bạch và chuẩn hóa đầu vào, nhiều trường đại học lại lo ngại quy định này có thể hạn chế quyền tự chủ, gây khó cho những ngành đặc thù và nhóm ngành khó tuyển sinh.

Học sinh tại Hà Nội chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Quang Vinh.

Học sinh tại Hà Nội chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Quang Vinh.

Đưa thí sinh về cùng chuẩn đánh giá

Một trong những nội dung đáng chú ý trong dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển sinh đại học (ĐH) được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) công bố lấy ý kiến từ tháng 9/2026 là lộ trình thu hẹp phương thức xét tuyển.

Theo dự thảo, năm 2027, mỗi ngành đào tạo, chương trình đào tạo được sử dụng tối đa 3 phương thức tuyển sinh và từ năm 2028 giảm xuống còn 1 phương thức. Ở cấp cơ sở đào tạo, các trường được sử dụng tối đa 5 phương thức. Xét tuyển thẳng và xét tuyển đối tượng cử tuyển không tính vào giới hạn này.

Điểm cần lưu ý là đề xuất này không có nghĩa tất cả các trường đại học (ĐH) trên cả nước phải sử dụng chung một phương thức, chẳng hạn cùng xét điểm thi tốt nghiệp THPT. Các trường vẫn được quyền lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của từng ngành, chương trình đào tạo.

Lý giải về đề xuất, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GDĐT), cho rằng việc một ngành sử dụng quá nhiều phương thức có thể khiến thí sinh có năng lực tương đương nhưng được đánh giá khác nhau do các thang đo chưa thực sự tương đương.

Theo số liệu Bộ GDĐT công bố, trong giai đoạn 2022-2026, hơn 2.000 chương trình đào tạo, tương đương hơn 40% số chương trình sử dụng từ hai phương thức trở lên, có chênh lệch điểm giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên. Đáng chú ý, điểm học bạ trong cùng mã ngành có trường hợp cao hơn khá xa so với điểm thi tốt nghiệp THPT.

Bộ GDĐT cho rằng khi các thang đo chưa đồng nhất, việc mở nhiều “cửa” xét tuyển có thể tạo ra sự thiếu công bằng. Thí sinh phải theo dõi nhiều phương thức, nhiều cách quy đổi và điều kiện khác nhau, trong khi cơ sở đào tạo cũng phải xử lý khối lượng dữ liệu lớn.

Vì vậy, mục tiêu của việc thu gọn không đơn thuần là giảm số lượng phương thức, mà hướng tới việc mỗi ngành lựa chọn một cách đánh giá phù hợp nhất, bảo đảm thí sinh đủ điều kiện có cơ hội tham gia và được đánh giá trên một thang điểm chung.

TS Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GDĐT):

Cần xác định phương thức tuyển sinh phù hợp với từng ngành

Việc giảm số lượng phương thức xét tuyển là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là xác định đúng phương thức phù hợp với đặc trưng từng ngành. Mỗi ngành đào tạo cần có tổ hợp môn thể hiện những kiến thức phổ thông nền tảng, giúp đánh giá mức độ phù hợp ban đầu của thí sinh. Nếu một ngành sử dụng quá nhiều tổ hợp, bản sắc và đặc trưng đầu vào có thể bị lu mờ; trong khi các trường cùng đào tạo một ngành nhưng áp dụng tổ hợp khác nhau cũng đặt ra vấn đề về tính khách quan.

Về chứng chỉ IELTS, tôi ủng hộ bỏ điểm cộng, điểm thưởng vì chứng chỉ ngoại ngữ không phản ánh trực tiếp năng lực học tập tổng thể và có thể tạo bất bình đẳng giữa thí sinh có điều kiện tiếp cận khác nhau. Khi đó, người có năng lực tiếng Anh tốt vẫn có thể được ghi nhận bằng cách miễn học phần ngoại ngữ hoặc rút ngắn thời gian đào tạo ĐH.

Tinh gọn nhưng cần giữ độ linh hoạt

Từ phía các trường, nhiều ý kiến đề xuất mỗi ngành được sử dụng tối đa hai phương thức thay vì chỉ một phương thức từ năm 2028.

Đại diện Trường ĐH Giao thông Vận tải ủng hộ lộ trình tinh gọn nhưng cho rằng việc chỉ còn một phương thức có thể phát sinh rủi ro. Nhà trường cũng đề nghị Bộ làm rõ giới hạn các thành tố trong phương thức xét tuyển kết hợp, cũng như cách quản lý đối với phương thức khác do các trường xây dựng.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thăng Long nhận định, việc giảm số phương thức là hợp lý bởi một chương trình có quá nhiều cách xét tuyển có thể ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào. Tuy nhiên, nếu chỉ được sử dụng một phương thức, các trường có thể ưu tiên lựa chọn cách tuyển sinh bảo đảm nguồn tuyển thay vì phương thức có khả năng đánh giá tốt hơn năng lực người học. Theo bà Hà, để tạo cơ hội cho cả thí sinh và cơ sở đào tạo, nên duy trì tối thiểu hai phương thức xét tuyển.

Cùng quan điểm, GS.TS Vũ Văn Yêm, Phó Giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội bày tỏ lo ngại rằng nếu mỗi ngành chỉ còn một phương thức, các trường “top” trên có thể lựa chọn những phương thức có khả năng phân hóa tốt, trong khi các trường ở nhóm dưới có thể ưu tiên học bạ hoặc điểm thi tốt nghiệp THPT để bảo đảm nguồn tuyển.

Điều này đặt ra câu hỏi về sự khác biệt trong chất lượng đầu vào giữa các nhóm trường, đặc biệt khi cùng một ngành đào tạo nhưng điều kiện tuyển sinh có thể rất khác nhau.

Ở góc độ đào tạo đặc thù, ThS Nguyễn Hứa Duy Khang, Phó trưởng Phòng Đào tạo ĐH Cần Thơ nêu quan điểm, cần cân nhắc tác động đến những ngành khó tuyển như nông nghiệp, môi trường. Đây là những lĩnh vực có vai trò cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế chủ lực nhưng vốn không có sức hút tuyển sinh lớn.

Theo ông Khang, với những ngành này, dù sử dụng phương thức nào cũng có thể gặp khó khăn trong tuyển sinh. Nếu tiếp tục thu hẹp lựa chọn, các trường có nguy cơ khó bảo đảm nguồn tuyển cho những ngành cần thiết đối với nền kinh tế.

Trong khi đó, TS Trần Đình Khôi Quốc, Trưởng ban Đào tạo ĐH Đà Nẵng cho rằng, lộ trình thay đổi tương đối gấp đối với học sinh dự tuyển năm 2027, bởi nhiều em đã định hướng ngành học, trường học từ giữa năm lớp 11. Ông đề xuất các trường cần công bố đề án tuyển sinh ít nhất 12 tháng trước kỳ tuyển sinh.

Những ý kiến trên cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc nên có một hay hai phương thức, mà còn là khả năng dự báo chính sách, bảo đảm tính ổn định và tạo điều kiện để các trường chủ động xây dựng chiến lược tuyển sinh dài hạn.

Không thu hẹp cơ hội của thí sinh

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Quang Vinh.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Quang Vinh.

Một trong những băn khoăn lớn của phụ huynh và học sinh là nếu mỗi ngành chỉ còn một phương thức, những thí sinh không có lợi thế ở phương thức đó sẽ mất đi cơ hội tiếp cận ĐH.

Chẳng hạn, một học sinh có kết quả học tập tốt trong suốt ba năm THPT nhưng không đạt kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp có thể gặp bất lợi nếu ngành đăng ký chỉ sử dụng điểm thi. Ngược lại, nếu trường lựa chọn học bạ, những thí sinh có năng lực tốt nhưng kết quả học tập giữa các trường phổ thông có sự chênh lệch lại có thể chịu thiệt thòi.

Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng không nên chỉ nhìn nhận việc giảm phương thức xét tuyển dưới góc độ đơn giản hóa thủ tục. Điều quan trọng hơn là phải bảo đảm phương thức được lựa chọn có khả năng đánh giá đúng năng lực cần thiết của người học, đồng thời phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực đào tạo.

Theo TS Lê Đông Phương, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục ĐH, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, việc giới hạn phương thức xét tuyển là cần thiết sau thời gian các trường sử dụng quá nhiều cách thức và tổ hợp khác nhau. Tuy nhiên mỗi ngành cần có phương thức đánh giá phù hợp với yêu cầu đầu vào, tránh việc tinh giản cơ học làm mất đi cơ hội của những thí sinh có năng lực phù hợp.

Trước những ý kiến khác nhau, Bộ GDĐT khẳng định định hướng một phương thức xét tuyển không đồng nghĩa áp đặt một cách tuyển sinh chung cho toàn hệ thống. Quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo vẫn được duy trì, song phải gắn với trách nhiệm bảo đảm chất lượng và công bằng.

Ông Nguyễn Tiến Thảo cho biết ban soạn thảo sẽ tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến phù hợp. Dự thảo cũng sẽ được rà soát về nội dung và kỹ thuật thể hiện, đặc biệt với những quy định có thể được hiểu khác nhau hoặc cần tính đến đặc thù của từng lĩnh vực đào tạo.

Theo đó, tinh thần xuyên suốt của các điều chỉnh là chất lượng phải được cải thiện, không được hạ thấp. Việc chuyển từ quản lý nặng về thủ tục hành chính sang quản trị dựa trên chất lượng và dữ liệu cũng là yêu cầu đặt ra đối với giáo dục ĐH trong giai đoạn mới.

Một phương thức hay hai phương thức, điều cốt lõi vẫn là chất lượng đánh giá. Vì vậy, thay vì chỉ đặt câu hỏi có nên giảm từ nhiều phương thức xuống một phương thức hay không, điều cần được quan tâm hơn là phương thức đó được thiết kế như thế nào, có đủ khả năng nhận diện người học phù hợp hay không và cơ chế nào bảo đảm không để những nhóm thí sinh có năng lực thực sự bị mất cơ hội.

Đây cũng sẽ là phép thử đối với năng lực xây dựng chính sách tuyển sinh: vừa bảo đảm yêu cầu quản lý thống nhất, vừa tôn trọng quyền tự chủ ĐH và quan trọng nhất là đặt quyền lợi chính đáng của người học, chất lượng đào tạo ở vị trí trung tâm.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/chi-con-mot-phuong-thuc-tuyen-sinh-dai-hoc-nen-hay-khong.html