Chính phủ nêu hạn chót phải phê duyệt vị trí việc làm viên chức là 1-7-2027
Theo quy định mới, danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm, gồm danh mục vị trí việc làm quản lý; danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; danh mục vị trí việc làm hỗ trợ.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 232/2026 quy định về vị trí việc làm viên chức.
Nghị định 232 quy định về nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm, việc xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phê duyệt, điều chỉnh danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Các nguyên tắc xác định vị trí việc làm
Nghị định quy định rõ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm. Trong đó, việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ.
Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. Đồng thời, cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới.
Các cơ quan, đơn vị cũng phải bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới.
Riêng với vị trí việc làm quản lý, Chính phủ nêu rõ một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có từ hai người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm.
Một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách. Đây cũng là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định.
Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị, việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.
Danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm, gồm danh mục vị trí việc làm quản lý; danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; danh mục vị trí việc làm hỗ trợ.

Cán bộ ở TP.HCM hỗ trợ người dân làm thủ tục hành chính. Ảnh: PHẠM HẢI
Việc xác định, sử dụng vị trí việc làm không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; không thay đổi tên gọi vị trí việc làm, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.
Trường hợp một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định việc áp dụng một danh mục vị trí việc làm khung phù hợp dựa trên các tiêu chí cụ thể.
Tiêu chí gồm mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị; tính chất của sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành; vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị…
Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Nghị định quy định, bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo năm bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.
Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định.
Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.
Tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
Theo Nghị định, tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý.
Trường hợp vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5 thì tỉ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Tỉ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó. Tỉ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỉ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.
Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỉ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó. Tỉ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỉ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.
Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng hai bậc nghề nghiệp thì tỉ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỉ lệ quy định tại nêu trên phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.
Trường hợp chưa đủ số lượng theo tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm ở mỗi bậc thì số còn thiếu không được cộng vào bậc thấp hơn (liền kề hoặc không liền kề). Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm thực hiện việc điều chỉnh tỉ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026.
Chậm nhất đến 1-7-2027 phải ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm
Về điều khoản chuyển tiếp, Chính phủ yêu cầu chậm nhất đến 01-7-2027, các bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan, đơn vị được phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm phải ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý.
Trong thời gian cơ quan, đơn vị có thẩm quyền chưa ban hành quyết định phê duyệt vị trí việc làm viên chức, các quyết định phê duyệt vị trí việc làm ban hành trước đó được tiếp tục áp dụng trong quá trình tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
Các bộ, UBND cấp tỉnh và cơ quan, đơn vị bố trí viên chức vào vị trí việc làm theo danh mục vị trí việc làm đã được phê duyệt theo quy định tại Nghị định này đối với viên chức được tuyển dụng trước 01-7-2026 thuộc phạm vi quản lý.
Trường hợp viên chức được tuyển dụng từ 01-7-2026 trở đi nhưng đơn vị sự nghiệp chưa được phê duyệt vị trí việc làm thì chậm nhất đến 01-7-2027 phải hoàn thành việc phê duyệt vị trí việc làm và bố trí viên chức vào vị trí việc làm được phê duyệt theo quy định.











