Chính phủ tặng voucher chính sách theo nhu cầu doanh nhân, lợi cả đôi bên
Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, dự án Luật Phát triển DN nhỏ và vừa tập trung đổi mới phương thức hỗ trợ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, được quyền lựa chọn dịch vụ hỗ trợ theo nhu cầu.
Dự thảo Luật Phát triển DN nhỏ và vừa đề xuất cơ chế voucher, cho phép doanh nghiệp lựa chọn dịch vụ hỗ trợ theo nhu cầu. Để cơ chế này phát huy hiệu quả, cần công khai nhà cung cấp, đơn giản hóa thủ tục và kiểm soát chặt việc sử dụng ngân sách.
Chuyển từ Nhà nước làm thay sang hỗ trợ theo nhu cầu
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đưa ra một phương thức hỗ trợ mới là cấp “phiếu hỗ trợ doanh nghiệp”, hay còn gọi là voucher, nhằm đổi mới cách thức sử dụng nguồn lực ngân sách, hướng đến nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, dự án luật tập trung đổi mới phương thức hỗ trợ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trao quyền cho doanh nghiệp lựa chọn nội dung, đơn vị cung cấp dịch vụ phù hợp.
Theo định hướng này, thay vì Nhà nước trực tiếp tổ chức các hoạt động hỗ trợ dựa trên những gì mình có, doanh nghiệp sẽ được lựa chọn dịch vụ theo nhu cầu. Ngân sách nhà nước không chỉ thực hiện vai trò hỗ trợ mà còn đóng vai trò dẫn dắt, chia sẻ rủi ro và huy động thêm nguồn lực xã hội để phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp.
Trao đổi với PV VietNamNet, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đánh giá đề xuất sử dụng voucher là một hướng tiếp cận tích cực, đặc biệt ở hướng cơ chế thị trường.

Đề xuất cấp “phiếu hỗ trợ doanh nghiệp”, hay còn gọi là voucher được đánh giá là chính sách tốt. Ảnh: Hoàng Hà
Theo ông Đậu Anh Tuấn, với cơ chế voucher, Nhà nước có thể khuyến khích các tổ chức, hiệp hội và doanh nghiệp phát triển dịch vụ hỗ trợ có chất lượng. Doanh nghiệp được lựa chọn nhà cung cấp phù hợp trong mạng lưới đáp ứng điều kiện của chương trình.
Cách tiếp cận này mang lại lợi ích ở cả hai phía. Doanh nghiệp có cơ hội sử dụng dịch vụ phù hợp hơn, trong khi các đơn vị cung cấp có thêm động lực nâng cao chất lượng, thu hút khách hàng và cạnh tranh để phát triển.
“Thay vì xây dựng bộ máy trực tiếp thực hiện các hoạt động hỗ trợ, Nhà nước tập trung vào vai trò trung gian, thúc đẩy và giám sát thị trường dịch vụ. Qua đó, cơ chế voucher vừa có thể hỗ trợ đúng nhu cầu, vừa góp phần phát triển lĩnh vực cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp một cách bền vững”, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhận định.
Cùng quan điểm, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội (HANOISME), nhận xét, giá trị lớn nhất của voucher không chỉ nằm ở số tiền ngân sách hỗ trợ mà còn ở việc chuyển quyền lựa chọn dịch vụ về phía doanh nghiệp, lấy nhu cầu thực tế và hiệu quả sử dụng nguồn lực làm trung tâm.
Từ thực tiễn tiếp xúc với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, ông Quốc Anh nhận thấy nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận các chương trình hỗ trợ, thậm chí không biết mình được hưởng chính sách gì, đăng ký ở đâu và thủ tục ra sao. Một số chương trình dù được triển khai đầy đủ về quy trình nhưng chưa đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp.
Trong khi đó, điều doanh nghiệp cần đôi khi rất cụ thể, từ phần mềm quản trị, dịch vụ kế toán, tư vấn pháp lý, đào tạo nhân lực đến chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số và kết nối thị trường.
Nếu được thiết kế phù hợp, voucher còn tạo động lực để các tổ chức tư vấn, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và đơn vị cung cấp dịch vụ cạnh tranh về chất lượng, giá cả và kết quả thực hiện. Nguồn lực ngân sách khi đó không chỉ hỗ trợ từng doanh nghiệp mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái dịch vụ chuyên nghiệp, thúc đẩy năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý, để cơ chế này phát huy hiệu quả, yêu cầu quan trọng là phải công khai, minh bạch danh sách đơn vị cung cấp dịch vụ, có bộ tiêu chí đánh giá nhà cung cấp và chất lượng dịch vụ rõ ràng và lộ trình triển khai dài hạn. Các tổ chức tham gia cần biết yêu cầu của chương trình để chủ động đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Đề xuất phân tầng mức hỗ trợ theo quy mô doanh nghiệp
Từ góc độ thiết kế chính sách, ông Mạc Quốc Anh cho rằng mức hỗ trợ cần được phân tầng theo quy mô và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng nhỏ, khả năng tài chính càng hạn chế thì tỷ lệ hỗ trợ càng cần cao; với doanh nghiệp có năng lực hấp thụ lớn hơn, mức hỗ trợ cần gắn với kết quả phát triển cụ thể.
Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, ông đề xuất nghiên cứu hỗ trợ từ 80-100% chi phí dịch vụ thiết yếu, với mức trần khoảng 20-30 triệu đồng/doanh nghiệp/năm.
Các dịch vụ ưu tiên gồm kế toán, khai thuế, hóa đơn điện tử, chữ ký số, tư vấn pháp luật, quản trị tài chính cơ bản, đào tạo kỹ năng số và thương mại điện tử.
Theo ông Quốc Anh, đây là những khoản chi không lớn đối với doanh nghiệp quy mô lớn nhưng có thể tạo áp lực đáng kể với doanh nghiệp siêu nhỏ, nhất là các đơn vị mới thành lập hoặc chuyển đổi từ hộ kinh doanh.

Theo chuyên gia, mức hỗ trợ cần được phân tầng theo quy mô và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Ảnh: Thái An
Ông kiến nghị xem xét hỗ trợ 100% chi phí đối với một số dịch vụ thiết yếu trong giai đoạn đầu chuyển đổi, có giới hạn về thời gian và định mức. Muốn khuyến khích hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp, chính sách cần giúp họ giảm chi phí tuân thủ ban đầu.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, mức hỗ trợ được đề xuất là 60-80% chi phí, với trần khoảng 50-100 triệu đồng/doanh nghiệp/năm. Trọng tâm gồm triển khai phần mềm quản trị, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cải tiến năng suất, đào tạo nhân lực quản lý, xây dựng thương hiệu, chứng nhận chất lượng và xúc tiến thương mại.
Với nhóm này, voucher được kỳ vọng trở thành nguồn lực kích thích đầu tư, giúp doanh nghiệp mạnh dạn nâng cấp năng lực thay vì phải trì hoãn vì thiếu kinh phí.
Đối với doanh nghiệp vừa, mức hỗ trợ được đề xuất là 40-60% chi phí, tối đa khoảng 100-200 triệu đồng/doanh nghiệp/năm. Các nội dung ưu tiên gồm nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, phát triển nhân lực chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Những dự án có tác động lan tỏa lớn, kết nối được nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn vào chuỗi giá trị có thể được xem xét cơ chế hỗ trợ chuyên sâu với định mức cao hơn, trên cơ sở thẩm định hiệu quả và khả năng cân đối ngân sách.
Ông Quốc Anh nhấn mạnh, đây là các mức tham khảo để cơ quan soạn thảo đánh giá tác động ngân sách, không nên áp dụng cứng nhắc cho mọi lĩnh vực.
Ngoài mức hỗ trợ, ông Quốc Anh cho rằng điều kiện tiếp cận cần được thiết kế theo hướng đơn giản hóa tối đa thủ tục. Ông Quốc Anh đề xuất xây dựng nền tảng đăng ký số, sử dụng mã số doanh nghiệp để đối chiếu thông tin sẵn có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước, qua đó hạn chế yêu cầu doanh nghiệp nộp lại giấy tờ.
Các điều kiện, hồ sơ và quy trình cụ thể cần được thiết kế theo hướng đơn giản, minh bạch. Quyền lựa chọn nhà cung cấp phải được bảo đảm, tránh biến voucher thành cơ chế độc quyền của một nhóm đơn vị tư vấn.
Cơ chế đồng chi trả cũng cần phù hợp với từng nhóm. Doanh nghiệp siêu nhỏ có thể được miễn phần đối ứng đối với dịch vụ thiết yếu, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp theo tỷ lệ hợp lý. Việc thanh toán cần thực hiện bằng phương thức điện tử, có nghiệm thu dịch vụ và kiểm soát chống hỗ trợ trùng lặp.
Chính sách nên ưu tiên doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp do phụ nữ hoặc người khuyết tật làm chủ, doanh nghiệp ở địa bàn khó khăn và những đơn vị đang đầu tư nâng cấp công nghệ.
Theo ông Quốc Anh, không nên yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh đã có lợi nhuận mới được tiếp cận hỗ trợ.
Một yêu cầu khác là phải đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ. Voucher chuyển đổi số cần gắn với mức độ ứng dụng thực tế; voucher đào tạo phải phản ánh năng lực người lao động; còn voucher xúc tiến thương mại cần hướng đến khả năng tiếp cận khách hàng, đối tác hoặc thị trường mới.
Ông cũng kiến nghị phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong tuyên truyền chính sách, khảo sát nhu cầu, kết nối nhà cung cấp, phản biện và giám sát độc lập. Tuy nhiên, cần tách bạch vai trò hỗ trợ với quyền xét duyệt, phân bổ nguồn lực để tránh xung đột lợi ích.
“Không phải cứ thay đổi hình thức hỗ trợ sang voucher thì chính sách sẽ mặc nhiên hiệu quả. Nếu doanh nghiệp vẫn phải chuẩn bị nhiều loại giấy tờ, chờ phê duyệt kéo dài, chỉ được chọn một số nhà cung cấp đã chỉ định hoặc phải ứng trước toàn bộ kinh phí rồi chờ hoàn trả, voucher có thể trở thành một thủ tục hành chính mới”, ông Quốc Anh nói.
Tuy nhiên, cơ chế thực hiện cũng cần phòng ngừa tình trạng nâng khống giá dịch vụ, thông đồng giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp, hợp thức hóa chứng từ để rút ngân sách.
Ông quan niệm, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp không nên được đánh giá bằng số tiền giải ngân, số lớp đào tạo tổ chức hay số phiếu đã cấp. Điều quan trọng là sau hỗ trợ, doanh nghiệp có giảm được chi phí, tăng năng suất, tiếp cận thêm thị trường và nâng cao năng lực quản trị hay không.
Mục tiêu cuối cùng của voucher không chỉ là giúp doanh nghiệp giảm chi phí trước mắt, mà còn nâng cao năng lực quản trị, năng suất và khả năng tiếp cận thị trường. Hiệu quả chính sách cần được đánh giá qua những cải thiện thực chất đó, cũng như khả năng doanh nghiệp từng bước mở rộng quy mô và giảm phụ thuộc vào hỗ trợ ngân sách.

