Chính quyền địa phương 2 cấp: Gỡ vướng thể chế, đổi mới quản trị
Cải cách thể chế là việc khó, bởi mọi đổi mới về tổ chức bộ máy, phân định thẩm quyền và phương thức quản lý đều phải được thể chế hóa bằng những quy định cụ thể.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng: “Đại hội XIV của Đảng xác định hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng” - Ảnh: chinhphu.vn
Khối lượng công việc lớn
Trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng điều chỉnh pháp luật diễn ra trên diện rộng.
Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng cho biết: "Để phục vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, 775 văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Trong đó có 114 luật, pháp lệnh, nghị quyết; 305 văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; 356 văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ".
Đây là cuộc điều chỉnh thể chế với quy mô lớn, diễn ra trong thời gian ngắn, nhằm tạo hành lang pháp lý cho một phương thức tổ chức và vận hành mới.
Nhiều nhiệm vụ cấp thiết đã được đẩy nhanh. 10/10 nhiệm vụ cần điều chỉnh thẩm quyền đã hoàn thành việc điều chỉnh giữa Trung ương với địa phương hoặc giữa các cấp chính quyền địa phương. 355/355 nhiệm vụ đã được các bộ, cơ quan hoàn thành hướng dẫn cụ thể theo kiến nghị của địa phương.
"Những kết quả này góp phần xác lập cơ sở pháp lý cho chuyển giao nhiệm vụ và xử lý vướng mắc trong vận hành", Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng chia sẻ.
Những "điểm nghẽn" được nhận diện thẳng thắn
Một hệ thống pháp luật vận hành tốt không thể chỉ được đo bằng số lượng văn bản đã ban hành hay số nhiệm vụ đã hoàn thành. Thước đo quan trọng hơn nằm ở khả năng giải quyết công việc trong thực tế khi thẩm quyền có rõ không, quy trình có thông suốt không, địa phương có đủ điều kiện thực hiện không, dữ liệu có được kết nối không và người dân, doanh nghiệp có thực sự được giảm chi phí, thời gian hay không.
Theo Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng, bên cạnh những kết quả đạt được, cải cách thể chế vẫn còn những hạn chế.
Thứ nhất, một số cơ chế, chính sách và quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp thực tiễn; việc sửa đổi, bổ sung có nội dung chưa kịp thời.
Thứ hai, chất lượng nghiên cứu chính sách, đánh giá tác động và tham vấn trong một số trường hợp còn hạn chế. Hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng đều về chất lượng; một số báo cáo tổng kết thi hành còn sơ sài, thiếu thông tin, số liệu.
Thứ ba, việc thực hiện thẩm quyền được phân cấp, phân quyền ở một số địa phương còn khó khăn; điều kiện bảo đảm chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ; một số quy định về phân cấp, phân quyền vẫn còn bất cập.
Thứ tư, điều chỉnh quy trình và bảo đảm liên thông dữ liệu chưa đồng bộ với yêu cầu đổi mới phương thức quản lý. Tái cấu trúc quy trình nội bộ, quy trình điện tử tại một số cơ quan còn chậm, ảnh hưởng đến giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính.

6 giải pháp hoàn thiện thể chế
Những vướng mắc trên cho thấy yêu cầu cấp thiết là hoàn thiện thể chế đồng bộ, từ xây dựng chính sách đến tổ chức thực thi, thay vì chỉ xử lý từng quy định riêng lẻ.
"Phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, gắn tháo gỡ 'điểm nghẽn' với chuyển đổi phương thức quản trị", Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng nhấn mạnh đây là giải pháp đầu tiên.
Việc rà soát pháp luật cần chuyển từ cách nhìn từng văn bản sang rà soát theo nhóm vấn đề. Những vướng mắc tác động trực tiếp tới người dân, doanh nghiệp và quá trình chuyển giao nhiệm vụ trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp phải được ưu tiên.
Mỗi vướng mắc cần xác định rõ nguyên nhân, thẩm quyền, cơ quan chủ trì và thời hạn giải quyết. Cùng với đó là tiếp tục hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, làm rõ phạm vi điều chỉnh, hiệu lực và quy định chuyển tiếp, hạn chế phát sinh những tầng nấc văn bản không cần thiết.
Thứ hai là nâng cao chất lượng nghiên cứu, hoạch định chính sách và đánh giá tác động. Mỗi đề xuất cần làm rõ vấn đề, nguyên nhân, mục tiêu và các phương án xử lý trên cơ sở tổng kết thi hành pháp luật và dữ liệu thực tế.
Đánh giá tác động phải nhìn tới chi phí tuân thủ, nguồn lực ngân sách, năng lực của cơ quan thực hiện và ảnh hưởng đối với từng nhóm liên quan; kết hợp phân tích định lượng khi có đủ dữ liệu với nghiên cứu định tính.
Thứ ba là hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và trách nhiệm giải trình. Phân cấp, phân quyền phải phù hợp tính chất nhiệm vụ, phạm vi tác động và năng lực cấp được giao, gắn với nhân lực, tài chính, dữ liệu và điều kiện làm việc. Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả, bảo đảm quyền chủ động gắn với trách nhiệm của địa phương.
Thứ tư là xây dựng thể chế quản trị dựa trên dữ liệu, đồng bộ với đổi mới quy trình và phương thức phối hợp. Rà soát quy định về hồ sơ, trình tự, trách nhiệm xác nhận và sử dụng thông tin để khai thác dữ liệu đã có, giảm yêu cầu cung cấp lại giấy tờ. Thiết kế quy trình nghiệp vụ phù hợp xử lý điện tử, giải quyết công việc liên thông và không phụ thuộc địa giới hành chính.
Thứ năm là tăng cường tổ chức thi hành và đánh giá pháp luật sau ban hành. Một đạo luật hay một chính sách chỉ thực sự hoàn thành khi được thực thi hiệu quả. Vì vậy, yêu cầu thực thi cần được xác định ngay khi xây dựng chính sách, làm rõ cơ quan thực hiện, nguồn lực, hướng dẫn và phương thức đánh giá.
Cuối cùng là nâng cao năng lực dự báo và khả năng thích ứng của thể chế. Tăng cường nghiên cứu xu hướng công nghệ, biến đổi kinh tế - xã hội và rủi ro đối với quản lý nhà nước; sử dụng kết quả trong hoạch định chính sách và xác định ưu tiên cải cách. Với lĩnh vực mới, cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát theo thẩm quyền, xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm, giới hạn rủi ro và tiêu chí đánh giá trước khi mở rộng áp dụng.
Điểm cốt lõi của cải cách thể chế không nằm ở việc ban hành thêm bao nhiêu quy định, mà ở khả năng tạo ra một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ trách nhiệm, đủ nguồn lực và vận hành trên nền tảng dữ liệu.
Khi thể chế được thiết kế để thích ứng với thực tiễn và tổ chức thực thi hiệu quả, mô hình chính quyền địa phương hai cấp sẽ vận hành thông suốt, nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

