Chính sách tài khóa mở rộng phải gắn với hiệu quả giải ngân

Bức tranh kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng GDP 8,18%, cao nhất trong ít nhất 15 năm trở lại đây. Song đằng sau các con số ấn tượng là những vấn đề lớn cần có lời giải phù hợp, từ nhập siêu, cân đối tiền tệ, sức khỏe doanh nghiệp cho đến thu chi ngân sách và đặc biệt là hiệu quả giải ngân đầu tư công trong bối cảnh chính sách tài khóa mở rộng.

Đây là nội dung được thảo luận sâu sắc tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức sáng 9/7.

5 vấn đề đằng sau con số tăng trưởng

Theo TS. Đặng Xuân Thanh - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm ghi nhận kết quả rất đáng khích lệ. Nền kinh tế ghi nhận nhiều điểm sáng như chỉ số PMI duy trì trên 50 điểm suốt 12 tháng, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 27,1%. Đây là những tín hiệu tích cực, cho thấy năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế chưa hề suy giảm.

Nhưng chính khi các chỉ số tăng trưởng đang thuận lợi, yêu cầu đặt ra lại càng rõ ràng hơn: làm thế nào để duy trì đà tăng trưởng cao trong 6 tháng cuối năm mà không đánh đổi ổn định vĩ mô, không tạo sức ép quá mức lên hệ thống tài chính và không làm suy giảm nền tảng tăng trưởng dài hạn.

Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy của Công ty TNHH Rhythm Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh

Sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy của Công ty TNHH Rhythm Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh

Trình bày báo cáo đề dẫn, TS. Nguyễn Đình Chúc - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đã nêu rõ những vấn đề cần lưu ý phía sau bức tranh tươi sáng này.

Vấn đề đầu tiên là nhập siêu, trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu tới 16,65 tỷ USD, một sự đảo chiều lớn so với mức thặng dư bình quân 24 tỷ USD/năm của giai đoạn 2023 - 2025. Dù 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất, nhưng việc nhập siêu đang tạo áp lực lớn lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối (hiện chỉ tương đương 2 tháng nhập khẩu). Bên cạnh đó, khu vực FDI chi phối tới gần 80% giá trị xuất khẩu, cảnh báo về việc nền kinh tế đang suy giảm giá trị gia tăng nội địa.

Bên cạnh đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngành ngân hàng đang gánh vai trò cấp vốn chủ lực, với tỷ lệ dư nợ tín dụng trên huy động (LDR) đã lên tới 115%, vượt ngưỡng an toàn được khuyến nghị. Các chính sách nới lỏng gần đây như miễn room tín dụng cho dự án trọng điểm, nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40% có thể giải quyết thanh khoản trước mắt nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lệch pha kỳ hạn và che giấu nợ xấu.

Về thu chi ngân sách và đầu tư công, điểm sáng là nợ công hiện chỉ khoảng 32% GDP, thấp hơn nhiều so với trần 60% và so với hầu hết các nền kinh tế đang phát triển có thu nhập trung bình. “Đây là dư địa tài khóa quý giá cho đầu tư công trong giai đoạn tới” - ông Nguyễn Đình Chúc nhận định. Tuy nhiên, quy mô thu ngân sách trên GDP vẫn thấp hơn đáng kể so với mặt bằng khu vực và thế giới, trong khi các nguồn thu truyền thống như dầu thô, thu từ vốn, thu từ đất đai đang giảm và khó dự đoán.

Trong khi đó, cân đối tiết kiệm - đầu tư đang bất cập. Hiện trạng tổng tiết kiệm lớn hơn đầu tư chủ yếu là nhờ thặng dư của khu vực FDI, trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn đang thâm hụt. Sự lệch pha này là nguyên nhân sâu xa khiến mặt bằng lãi suất khó giảm và gia tăng gánh nặng tài trợ vốn lên hệ thống ngân hàng.

Một vấn đề cần lưu ý nữa là sức khỏe của doanh nghiệp nội. Doanh nghiệp đang chịu tác động cộng hưởng từ tất cả những vấn đề đã nêu: chi phí vốn, áp lực tỷ giá, dư địa chính sách hỗ trợ...

Đây đều là những vấn đề không có lời giải đơn giản. Thảo luận tại hội thảo, các chuyên gia đều đồng tình quan điểm, giải pháp cho 6 tháng cuối năm không thể chỉ là bơm thêm vốn cho tăng trưởng mà cần sự phối hợp chính sách đồng bộ hơn. Tài khóa phải đóng vai trò dẫn dắt, nhưng không làm thay thị trường. Đầu tư công phải được đẩy nhanh, nhưng không thể đánh đổi chất lượng dự án. Tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ sản xuất kinh doanh, nhưng không thể trở thành kênh gánh toàn bộ tham vọng tăng trưởng. Xuất khẩu cần tiếp tục mở rộng, nhưng phải tăng hàm lượng giá trị gia tăng nội địa. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ, nhưng hỗ trợ phải đi vào năng lực cạnh tranh, niềm tin kinh doanh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Mở rộng tài khóa là cần thiết nhưng phải đúng địa chỉ

Riêng đối với chính sách tài khóa, TS. Nguyễn Đình Chúc đề nghị các nhà hoạch định chính sách phải làm rõ dư địa và giới hạn của chính sách tài khóa mở rộng, gắn với hiệu quả giải ngân đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến lược. Mục tiêu lớn nhất của giai đoạn tới là trả lời được câu hỏi: “làm sao vừa mở rộng dư địa tài khóa cho các dự án hạ tầng chiến lược vừa giữ được lộ trình bền vững của nợ công và thâm hụt ngân sách”.

Điều đó cho thấy chính sách tài khóa trong 6 tháng cuối năm phải được nhìn từ hai phía: mở rộng có trọng tâm và thực thi có hiệu quả. Mở rộng tài khóa là cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng, nhất là trong bối cảnh tín dụng đã chịu sức ép lớn và thị trường vốn phi ngân hàng còn mỏng. Nhưng mở rộng tài khóa phải đi cùng kỷ luật ngân sách, kiểm soát thâm hụt, giữ vững lộ trình bền vững của nợ công và nâng cao hiệu quả từng đồng vốn đầu tư công.

Theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, mặc dù chính sách tài khóa vẫn còn dư địa để thúc đẩy đầu tư công, song quá trình triển khai vẫn đối mặt nhiều thách thức như chất lượng lập dự toán, tiến độ giải ngân, huy động nguồn lực, cân đối giữa đầu tư mới và chi duy tu hạ tầng hiện hữu, cũng như cơ chế phân cấp giữa Trung ương và địa phương. Đây đều là những yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của đồng vốn đầu tư công và khả năng lan tỏa sang khu vực tư nhân.

Để nâng cao hiệu quả giải ngân, hai vấn đề mấu chốt là tiến độ giải ngân và chất lượng dự án. Chuyên gia Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng nhấn mạnh việc có tiền nhưng không thể bơm vào nền kinh tế đang khiến nỗ lực mở rộng tài khóa mất đi ý nghĩa thực tiễn. Trong khi đó, TS. Lý Đại Hùng - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới lưu ý việc chuyển hóa từ hiệu quả sử dụng vốn vào gia tăng năng suất lao động còn chưa cao.

Nhằm phá vỡ những điểm nghẽn hiện tại, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường - Học viện Tài chính kiến nghị cần quyết tâm hơn nữa trong cải cách bộ máy và thể chế cho đầu tư công đi đôi với việc thay đổi cách đánh giá kết quả thực hiện đầu tư công. Chỉ khi nào việc đánh giá kết quả dựa trên hiệu quả thực tiễn thay vì con số giải ngân đơn thuần, dòng vốn nhà nước mới thực sự trở thành vốn mồi dẫn dắt nền kinh tế. PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cũng lưu ý thách thức trong việc cụ thể hóa cơ chế để giải ngân đầu tư cho khoa học - công nghệ, bởi tăng trưởng cao và bền vững không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn đầu tư theo chiều rộng, mà phải chuyển hóa vốn đầu tư thành năng suất lao động, năng lực công nghệ và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Những thông điệp rút ra từ hội thảo cho thấy, Việt Nam vẫn có dư địa để tăng trưởng cao, nhưng dư địa đó phải được sử dụng đúng cách, đúng chỗ. Chính sách tài khóa mở rộng là cần thiết, nhưng hiệu quả giải ngân mới quyết định chính sách đó có thực sự trở thành động lực tăng trưởng hay không. Nếu mỗi đồng vốn ngân sách đi nhanh hơn vào nền kinh tế, đúng địa chỉ hơn, tạo năng lực sản xuất mới rõ hơn, đầu tư công sẽ không chỉ kích thích tổng cầu trong ngắn hạn, mà còn củng cố nền tảng cung, giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và giúp nền kinh tế tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững.

Hoàng Yến

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/chinh-sach-tai-khoa-mo-rong-phai-gan-voi-hieu-qua-giai-ngan-200486-200486.html