Chính sách ưu đãi về đất đối với người dân tộc thiểu số

Chính phủ vừa có đề xuất bổ sung vào Điều 9 Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp quy định miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo quy định.

Chính phủ đề xuất, đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Ảnh: G.B.

Chính phủ đề xuất, đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Ảnh: G.B.

Theo Bộ Tài chính, chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) đang có một số vướng mắc phát sinh như Luật Thuế SDĐPNN quy định các trường hợp miễn, giảm thuế bao gồm: Đất của dự án đầu tư theo lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư; Đất của cơ sở thực hiện xã hội hóa; Đất của doanh nghiệp sử dụng lao động là thương binh, bệnh binh, người khuyết tật; Đất ở trong hạn mức giao đất ở mới tại địa bàn ưu đãi đầu tư; Đất ở trong hạn mức giao đất ở mới của người có công với cách mạng, hộ nghèo...

Như vậy, các quy định miễn, giảm thuế SDĐPNN hiện hành đã cơ bản thể chế hóa đúng tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương nhưng lại chưa quy định ưu đãi đối với các đối tượng là người dân tộc thiểu số.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho biết, qua tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách thuế SDĐPNN cho thấy, Luật Thuế SDĐPNN hiện hành quy định áp dụng mức thuế suất lũy tiến đối với đất ở (0,03%; 0,07% và 0,15%), áp dụng mức thuế suất cao đối với đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định với mức thuế suất 0,15%.

Tuy nhiên, Luật thuế SDĐPNN chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng, chưa bao quát đầy đủ các trường hợp sử dụng đất cần được điều tiết, đặc biệt là những trường hợp nắm giữ đất nhưng không đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả.

Từ thực tế trên, Bộ Tài chính nêu quan điểm, cần sửa đổi, bổ sung Luật Thuế SDĐPNN để kịp thời cụ thể hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW và đảm bảo phù hợp với thực tiễn.

Mới đây, Chính phủ có Tờ trình gửi Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Thuế SDĐPNN.

Chính phủ đề xuất, bổ sung quy định miễn thuế SDĐPNN đối với người dân tộc thiểu số. Lý do, Luật Thuế SDĐPNN quy định các trường hợp miễn, giảm thuế bao gồm: Đất của dự án đầu tư; Đất của cơ sở thực hiện xã hội hóa; Đất của doanh nghiệp sử dụng lao động là thương binh, bệnh binh, người khuyết tật; Đất xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, cơ sở nuôi dưỡng người già cô đơn, người khuyết tật, trẻ mồ côi; cơ sở chữa bệnh xã hội...; Đất ở trong hạn mức giao đất ở mới tại địa bàn ưu đãi đầu tư; Đất ở trong hạn mức giao đất ở mới của người có công với cách mạng, hộ nghèo...

Ngoài ra, theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Quản lý thuế thì miễn thuế đối với hộ gia đình, cá nhân có số thuế SDĐPNN phải nộp hàng năm từ 50.000 đồng trở xuống.

Qua đánh giá của Chính phủ cho thấy, các quy định miễn, giảm thuế SDĐPNN hiện hành đã cơ bản thể chế hóa đúng tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW nhưng chưa có quy định ưu đãi đối với các đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ đó, Chính phủ đề xuất bổ sung vào Điều 9 Luật Thuế SDĐPNN quy định miễn thuế SDĐPNN đối với đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo quy định của Chính phủ. Bổ sung quy định về thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng.

Chính sách thuế SDĐPNN hiện hành đã có quy định liên quan đến sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai. Nhưng Luật Thuế SDĐPNN chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng. Từ đó, Chính phủ đề xuất bổ sung khoản 8 vào Điều 7 Luật Thuế SDĐPNN quy định: “Đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức. Đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai”.

Theo Thứ trưởng Cao Anh Tuấn, đề xuất của Chính phủ đảm bảo công tác xây dựng, hoàn thiện luật đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 21-NQ/TW. Mặt khác, bám sát yêu cầu thực tiễn, đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước, tính đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Khắc Hạnh

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/chinh-sach-uu-dai-ve-dat-doi-voi-nguoi-dan-toc-thieu-so.html