Chính thức tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng từ 5/10
Chính phủ quyết định nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng, tương ứng tăng 8%, áp dụng từ ngày 5/10/2026…

Chi trả chế độ trợ cấp cho người cao tuổi. Ảnh: Thu Hằng.
Theo Nghị định số 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội, mức chuẩn trợ giúp xã hội này là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác và các mức trợ giúp xã hội khác.
TÁM NHÓM ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC TRỢ GIÚP THƯỜNG XUYÊN
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này. Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.
Nghị định quy định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm: Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp như bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; cả cha mẹ đẻ đã chết, hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được.
Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội…
Thứ hai, trường hợp trẻ đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi, nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất, nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục), thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.
Thứ ba, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
Thứ tư, người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật, và đang nuôi con dưới 16 tuổi.
Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục), thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.
Thứ năm, người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.
Thứ sáu, người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.
Thứ bảy, trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.
Thứ tám, người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
CÁC MỨC TRỢ GIÚP XÃ HỘI HẰNG THÁNG
Theo Nghị định, các đối tượng nêu trên được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng, nhân với hệ số tương ứng từ 1,0 đến 3,0 tùy từng đối tượng cụ thể.
Cụ thể, hệ số 2,5 đối với trường hợp trẻ dưới 4 tuổi; hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên.
Hệ số 1,5 đối với người cao tuổi từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; hệ số 2,0 đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên.
Hệ số 3 đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội, nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng…
Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau theo quy định tại Nghị định này, hoặc tại các văn bản khác nhau quy định về chế độ trợ giúp xã hội, thì chỉ được hưởng một mức cao nhất.
Ngoài mức trợ cấp hằng tháng, đối tượng trợ giúp xã hội mà đang học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được hưởng chính sách, chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026.
Đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội, thì được chuyển sang mức tương ứng quy định tại Nghị định này từ ngày 1/7/2026.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.
Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội tổ chức thực hiện chế độ, chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng theo mức quy định tại Nghị định này kể từ ngày 1/7/2026.
Bộ Nội vụ thông tin, từ năm 2007 đến nay, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội. Việc nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội thời gian qua thể hiện nỗ lực rất lớn của Chính phủ trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn.
Thời gian tới, chính sách trợ giúp xã hội sẽ tiếp tục được các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối nguồn lực ngân sách nhà nước.

