Cho muôn dân vui ngày đại khánh
Thời xưa, ngoài các ngày Tết lớn như Nguyên đán, Đoan dương, Trung nguyên thì lễ sinh nhật vua được coi là ngày lễ lớn nhất trong năm, được tổ chức như 'quốc khánh' của quốc gia thời phong kiến. Ở Việt Nam ta, các thời vua cũng hay tổ chức hoạt động vui chơi cho nhân dân thưởng thức trong ngày đại lễ này.
Lễ khánh thọ của vua nước ta lần đầu được tổ chức như vậy ở thời Vua Lê Hoàn. "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết, vào năm Thiên Phúc thứ 6 (985), tháng 7, ngày rằm, nhân sinh nhật hoàng đế, triều đình tổ chức đua thuyền trên sông bên ngoài kinh đô Hoa Lư để muôn dân cùng vui xem. Vua cũng sai người làm thuyền ở giữa sông, lấy tre làm núi giả đặt trên thuyền, gọi là Nam Sơn, theo câu chúc "Thọ tỷ Nam sơn" để chúc vua sống lâu. Sử viết "việc này về sau thành thường lệ".

Mỗi dịp tiết Vạn thọ của triều Nguyễn thường có biểu diễn hát xướng ở Phu Văn lâu cho nhân dân vui xem.
Việc tổ chức lễ khánh thọ cho vua đầu triều Lý là Lý Thái Tổ diễn ra hơi muộn, mãi năm thứ 12 của triều đại này, có lẽ, lúc này nhà vua mới tạm yên tâm các công việc đối nội, đối ngoại sau khi xây dựng triều đại mới. "Toàn thư" cho biết, năm Thuận Thiên thứ 12 (1021), tháng 2, triều đình bắt đầu đặt ngày sinh của vua là tiết Thiên Thành. Vào ngày này, vua cho kết trúc làm núi ngoài cửa Quảng Phúc (cửa Tây kinh thành Thăng Long), gọi là Vạn Thọ nam sơn để chúc thọ vua; trên núi làm nhiều hình trạng chim bay, thú chạy, lắm vẻ ly kỳ để nhân dân chiêm ngưỡng. Nhân đó, Vua Lý Thái Tổ cũng ban yến cho bầy tôi.
Tuy nhiên, sự việc sử sách chép vào năm sau cho thấy Vua Lý Thái Tổ là người thương dân: Năm Thuận Thiên thứ 13 (1022), tháng 2, mùa xuân, nhà vua thấy việc kết trúc làm núi giả khiến nhọc sức nhân dân nên bãi bỏ. Ngày tiết Thiên Thành chỉ đặt tiệc thôi.
Tuy nhiên, sang thời Vua Lý Thái Tông, việc kết trúc làm núi để mừng thọ vua được tái hiện. "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết: "Tháng 6, năm Thiên Thành thứ nhất (1028), đặt sinh nhật nhà vua làm tiết Thiên Thánh. Vào ngày đó, kết trúc làm núi Vạn Thọ nam sơn. Núi có 5 ngọn: ngọn giữa gọi là núi Trường Thọ, 4 ngọn bên gọi là núi Bạch Hạc, làm nhiều hình trạng chim bay muông chạy. Sườn núi cắm đầy cờ xí, treo xen vàng ngọc; cho phường chèo đến trong núi, thổi kèn, thổi sáo, múa hát để mua vui. Vua ban yến cho bầy tôi. Lối chơi núi 5 ngọn bắt đầu từ đấy".
Tuy nhiên, việc tổ chức sinh nhật linh đình của Vua Lý Thái Tông đã bị Vua Tự Đức thời Nguyễn phê rằng: "Chưa an táng cha, còn đang có trở đã vội yến tiệc vui chơi như thế, thật thất lễ quá!".
Các đời vua tiếp theo thời Lý, Trần, Lê đều đặt tên riêng cho lễ sinh nhật vua, nhưng sử sách không ghi rõ trong dịp lễ này có những hoạt động gì cho nhân dân vui chơi. Đến thời Nguyễn, sau vua đầu triều là Vua Gia Long, đến đầu thời Vua Minh Mạng bắt đầu có quy định về tổ chức lễ sinh nhật vua. Sử nhà Nguyễn, bộ "Đại Nam thực lục" chép: Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), định lệ treo đèn và răn cấm trong khi khánh tiết. Ngày 23/4 là tiết Vạn thọ (sinh nhật vua). Trước 3 ngày và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ở kinh thành và ở lỵ sở các thành trấn, ban đêm nhà các quan và dân đều treo đèn ở trên cổng ngõ.
Quy định treo đèn rực rỡ vào ngày khánh thọ nhà vua tiếp tục được bổ sung vào năm sau, 1822, theo đó, vào tiết Vạn thọ, trước 3 ngày và ngày chính treo đèn là 4 đêm; 4 ngày ấy cấm xử hình và sát sinh.
Dịp này, các triều Nguyễn cũng cho dựng cột cờ ở các cửa kinh thành, mỗi cửa 2 cột, và định lệ treo cờ, treo đèn. Trước tiết Vạn thọ 3 ngày, đêm đều treo đèn, trước 1 ngày treo cờ, ngày chính thì ngày treo cờ, đêm treo đèn. Đến năm Minh Mạng thứ 8 (1827), việc treo đèn trong dịp tiết Vạn thọ được tăng lên tới 5 ngày.
Về các trò tổ chức cho nhân dân vui xem, năm Minh Mạng thứ 11 (1930), nhân lễ tứ tuần đại khánh của nhà vua, Bộ Binh tâu xin khánh tiết trong năm này, thì suốt 5 ngày lễ, các cửa kinh thành, ngày thì treo cờ, đêm thì treo đèn, ngoài ra thì ngày nào buổi sáng buổi chiều, phụng chỉ cho thần dân xem trò ở trước thể lâu hoặc xem thả đèn, múa đèn ở phía Nam thành, hoặc xem trò ở thủy bằng thì đến giờ cũng đều treo cờ, xong việc thì thôi. Vua y lời tâu này.
Thể lâu là cái lầu kết hoa, còn thể bằng là sàn diễn kết hoa (không có lầu bên trên), là nơi diễn các trò vui cho nhân dân xem. Vào các dịp lễ Vạn thọ trước đó, Bộ Lễ triều Nguyễn thường dựng một lầu hoa ở trước điện Thái Hòa, hay dưới cửa điện Càn Nguyên và dựng nghi môn ở ngoài cửa Tả Hữu túc môn. Năm 1830 đó, Vua Minh Mạng sai bỏ bớt lầu hoa ở điện Thái Hòa, dựng thêm bằng hoa ở sân điện Cần Chính cùng, trước thềm tả vu hữu vu cho sẵn chỗ bày biện. Ngoài ra, vua sai làm thêm giàn kết hoa nghi môn ở ngoài Tả Hữu đoan môn.
Nhân dân phủ Quảng Đức quanh kinh thành còn có thể chiêm ngưỡng những điệu múa cung đình ở Phu Văn lâu trong đại lễ sinh nhật vua. "Đại Nam thực lục" viết: "Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), mùa tiết Vạn thọ, vua chuẩn cho văn từ ngũ phẩm, võ từ tứ phẩm trở lên thì trước 1 ngày, văn chánh lục phẩm, võ chánh ngũ phẩm thì ngày chính nhật, đều ban yến một lần, sau làm lệ thường. Giờ Thân hôm ấy (từ 15-17h) sai múa bát dật (gồm 64 vũ công, chia làm 8 hàng, mỗi hàng 8 người) ở lầu Phu Văn, cho quan dân cùng xem (lệ cũ thì chỉ múa ở nhà Duyệt thị đường)". Sang thời Vua Tự Đức, trong dịp tiết Vạn thọ thì cho diễn kịch cả ở Duyệt thị đường cho vua và các quan xem và ở lầu Phu Văn cho nhân dân xem. Về chiều, vua ngự thuyền lầu Thái Hanh xem đèn.
Còn trong dịp lễ tứ tuần đại khánh của mình, Vua Minh Mạng dù vui mừng khi thấy nhân dân tích cực hưởng ứng việc treo đèn trước cửa, nhưng cũng lo sợ dân nghèo chi vào khoản dầu đèn tốn kém. Sử viết, khi rước thái hậu đi xem thể lâu, nhà vua đã dụ Bộ Lễ: "Hằng năm, đến tiết Vạn thọ, theo lệ thì thần dân treo đèn ở trước cửa. Năm nay, gặp tiết tứ tuần của trẫm, hỏi ra thì nhân dân ở kinh không cứ nhà giàu hay nghèo đua nhau thắp nhiều đèn đuốc. Dẫu mỗi nhà chỉ một vài chén dầu đèn thắp mấy đêm, sở phi cũng chẳng quá mấy chục hay trăm đồng tiền, nhà giàu có thì chẳng thấm vào đâu, nhưng dân nghèo túng ăn mặc đã không đủ thì tốn một đồng tiền, trẫm cũng tiếc cho họ".
Sau đó, nhà vua nói: "Trẫm tự khi lên ngôi đến nay, phàm việc đều là thương nuôi dân, tự người già đến trẻ con, đều quen tai nghe mắt thấy. Nay, gặp khánh tiết, vẫn muốn trong ngoài đất nước đều được ơn trạch thấm nhuần mà trước là gia ơn cho kẻ cô đơn góa bụa, thì tuy dân gian có tốn chút ít cũng thực chút thỏa lòng trẫm. Nên truyền chỉ cho Phủ doãn Thừa Thiên thông dụ cho xóm làng chợ búa, nhà nào đủ ăn đủ mặc thì chiếu lệ treo đèn để tỏ lòng vui mừng chúc thọ cũng không hại, còn những nhà nghèo khó, sinh lý thiếu thốn thì cũng nên dè sẻn, tiết kiệm, chớ nên miễn cưỡng bắt chước người. Nhưng, việc ấy là lòng trung ái của thần dân, há nên vội cấm? Duy không nên chỉ chuyên xa xỉ mà hại đến ăn mặc. Nên đem ý trẫm truyền bảo rõ ràng, khiến cho mọi người đều biết".
Sinh nhật vua còn một nghi lễ nữa được nhân dân quanh kinh thành háo hức đón xem, là lễ bắn súng thần công chúc mừng, không khác gì ngày nay chúng ta chờ xem pháo lễ bắn khi cử Quốc thiều trong Ngày Quốc khánh. Theo lệ thường, mỗi tiết Vạn thọ, triều Nguyễn cho bắn 9 phát súng thần công ở trước Nam đài, còn ở ngoài các trấn thì không bắn. Nhưng, từ dịp tứ tuần đại khánh của Vua Minh Mạng năm 1830, Bộ Binh tâu rằng: "Việc bắn súng mừng, tuy sách xưa chưa có bằng chứng mà nhà vua gặp lúc vui mừng, bắn súng để phát động khí vui, cũng là việc hay ở trong lúc vui mừng. Xin đến ngày khánh tiết, ở kinh bắn súng mừng 5 lần 9 là 45 tiếng. Ngày ấy, trước mặt kinh thành, 5 đài Nam chính, Nam thắng, Nam xương, Nam hưng, Nam hanh, đợi điện Thái Hòa làm lễ khánh hạ xong thì đều bắn 9 tiếng súng mừng.
Đài Trấn Hải cũng đặt án bái vọng nghe tiếng súng ở kinh thành xong thì bắn tiếp 9 tiếng súng mừng. Các địa phương thì sau khi lễ khánh hạ ở hành cung thành trấn xong, cũng bắn 9 tiếng súng mừng. Các thành phủ huyện và thành Vinh Ninh, đồn Châu Đốc, các pháo đài Điện Hải, An Hải, Tĩnh Hải, Biện Sơn cũng đặt án bái vọng và bắn 7 tiếng súng mừng. Như thế thì tiếng chúc mừng thọ hang núi đều vang, từ trong đến ngoài, đều nhờ thế mà phát động cả khoảng trời đất". Lời tâu này được nhà vua chuẩn y.
Bộ Binh còn xin rằng, sau đó, cứ 10 năm làm một tiết, tiết Ngũ tuần đại khánh (sinh nhật nhà vua 50 tuổi) thì xin dùng 6 lần 9 là 54 tiếng súng, Lục tuần đại khánh xin dùng 7 lần 9 là 63 tiếng, Thất tuần đại khánh xin dùng 8 lần 9 là 72 tiếng, Bát tuần đại khánh xin dùng 9 lần 9 là 81 tiếng, Cửu tuần đại khánh cùng tiết Kỳ di 100 tuổi, cho đến nghìn muôn năm vô cùng, đều dùng 100 tiếng để tỏ lệ thường. Còn các thành trấn cùng phủ huyện đồn bảo thì đều lấy lệ khánh tiết năm đó làm chuẩn, không cần gia thêm". Tuy nhiên, Vua Minh Mạng băng hà khi chưa đến lễ Ngũ tuần đại khánh.
Ngoài ra, vào tiết Vạn thọ, triều Nguyễn còn cho thắp đèn khắp trên tường ở mặt trước kinh thành và trên bậc thứ nhất cùng bậc thứ hai của kỳ đài. Số đĩa đèn lên đến 1.000 và thắp suốt 5 đêm cử hành đại lễ, khiến kinh thành rực sáng suốt dịp lễ.
Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/khoa-hoc-van-minh/cho-muon-dan-vui-ngay-dai-khanh-i779295/