Việt Nam Giải phóng quân tiến về Hà Nội
Thực hiện Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu tiến công của Việt Nam Giải phóng quân và lực lượng vũ trang các địa phương không còn là các đồn bốt, châu lỵ mà là các thị xã, thành phố. Theo chủ trương đó, Giải phóng quân nhận nhiệm vụ cấp tốc tiến về xuôi, trước hết là đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, sau đó tiến về Hà Nội.
Nhận được mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa, chiều 16-8-1945, một đơn vị Việt Nam Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy tập trung ở Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang), hàng ngũ chỉnh tề, dưới cờ đỏ sao vàng làm lễ xuất quân, tiến đánh thị xã Thái Nguyên. Các đại biểu dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào đều có mặt để tiễn bộ đội lên đường chiến đấu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Ủy ban Khởi nghĩa, tuyên đọc Quân lệnh số 1. Đại diện các đoàn đại biểu đến dự đã động viên, chúc bộ đội Giải phóng quân lên đường đánh giặc thắng lợi.
Sau buổi lễ, 14 giờ ngày 16-8, đơn vị Giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào hành quân qua núi Hồng, đèo Khế tiến thẳng về Thái Nguyên. Đến ngày 19-8, đơn vị tới Thịnh Đán (nằm ở phía Tây thị xã Thái Nguyên) thì dừng lại và được bổ sung quân số tăng lên 450 người, tổ chức thành Chi đội 3 Giải phóng quân, được trang bị các loại súng trường, trung liên, tiểu liên, súng cối và một số vũ khí thô sơ. Bộ chỉ huy trận đánh gồm đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đăng Ninh, đêm 19-8 triệu tập cuộc họp với cán bộ lãnh đạo địa phương để thống nhất kế hoạch tiến đánh thị xã Thái Nguyên.

Đoàn giải phóng quân từ Việt Bắc về duyệt binh tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội.
Khi đó, Thái Nguyên là một thị xã quan trọng, án ngữ phía Nam Chiến khu Việt Bắc, tiến xuống vùng trung châu Bắc Bộ, đặc biệt là về Hà Nội. Bởi vậy, quân Nhật tăng cường phòng thủ nhằm ngăn chặn sự uy hiếp và tiến công của ta. Quân Nhật trấn giữ ở thị xã gồm lực lượng bảo an và cảnh sát, đóng thành 2 cụm: Cụm thứ nhất khoảng 120 lính Nhật đóng tại trại lính khố xanh và dinh tỉnh trưởng cũ. Cụm thứ hai khoảng 400 lính bảo an, 200 cảnh sát trang bị 600 súng trường, súng máy, đóng tại trại lính Pháp cũ, sát dinh tỉnh trưởng.
Lần đầu tiên Giải phóng quân tập trung lực lượng lớn nhất (tương đương tiểu đoàn) đánh vào thị xã có quân địch đông, hỏa lực mạnh, phòng ngự trong các công sự kiên cố, nhưng chúng đang hoang mang, dao động. Bộ chỉ huy quyết định chia Chi đội 3 làm 3 mũi (mỗi mũi một đại đội) cùng quần chúng nhân dân bao vây, chốt chặt cửa ngõ Đông Nam thị xã, cắt đứt đường liên lạc của địch từ Thái Nguyên về Hà Nội. Ngày 20-8, ta trao tối hậu thư và thị uy sức mạnh quân sự, buộc tỉnh trưởng và tri huyện Đồng Hỷ nộp ấn tín đầu hàng, lính bảo an nộp vũ khí. Cùng lúc, ta tiến công quân Nhật trấn giữ doanh trại và ty liêm phóng. Chúng ngoan cố chống cự. Sau 2 giờ chiến đấu, ta gửi tối hậu thư, nhưng quân Nhật không chịu nộp vũ khí. Cuộc chiến đấu tiếp tục, ta từ tập kích chuyển dần sang trận địa bao vây và chiến đấu trên đường phố. Nhân dân dựng thêm nhiều chiến lũy, mang cơm nước, đạn dược tiếp tế cho bộ đội. Bộ đội Giải phóng quân kết hợp xung phong đánh địch với sử dụng hỏa lực mạnh đánh vào các vị trí quân Nhật. Với cách đánh hợp lý, kết hợp tiến công quân sự với thị uy của đông đảo quần chúng có tự vệ làm xung kích, đến ngày 25-8, quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên chấp nhận rút về Hà Nội. Kết quả, ta thu 600 khẩu súng các loại, góp phần trang bị cho Chi đội 3 và Chi đội 4 Giải phóng quân mới thành lập.
Trận tiến công thị xã Thái Nguyên thắng lợi là trận điển hình trong quá trình tổng khởi nghĩa, đánh dấu bước trưởng thành của Việt Nam Giải phóng quân. Trong trận này, ta đã phối hợp với nhiều lực lượng thực hành bao vây-tiến công-bức hàng quân địch ở một tỉnh lỵ có những đơn vị binh lực địch khá mạnh và được tổ chức chặt chẽ. Đồng thời, cũng là trận ta sử dụng lực lượng quy mô lớn tương đương cấp tiểu đoàn, hình thành 3 hướng tiến công và phân công mục tiêu cho từng hướng mũi đánh địch. Tuy cách đánh còn đơn giản, nhưng đã hình thành rõ nét chiến thuật tiến công-loại hình chiến thuật chủ yếu của Quân đội ta.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng thị xã Thái Nguyên, Chi đội 3 và Chi đội 4 Giải phóng quân nhận lệnh từ Thái Nguyên tiến về Hà Nội. Ngày 26-8, Chi đội 3 và một đại đội thuộc Chi đội 4 đến Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội), sau đó tiến vào nội thành. Trước đó, ngày 23-8, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Tuyên Quang) qua Thái Nguyên về tới làng Gạ (ngoại thành Hà Nội); ngày 25-8, Bác vào nội thành để chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Chiều 30-8, Chi đội 3 và một đại đội thuộc Chi đội 4 Giải phóng quân cùng lực lượng tự vệ và đông đảo nhân dân dự lễ ra mắt của Việt Nam Giải phóng quân ở Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Việt Nam Giải phóng quân ra mắt trước quần chúng nhân dân Thủ đô.
Sáng 2-9-1945, Việt Nam Giải phóng quân và lực lượng tự vệ chiến đấu đã hàng ngũ chỉnh tề, cùng 50 vạn nhân dân Hà Nội và các lực lượng có mặt tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Tiếp đó, Giải phóng quân cùng các lực lượng và đồng bào diễu hành biểu dương lực lượng hùng hậu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam.
Bài viết trên cơ sở các cuốn sách, tài liệu do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản: Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975), tập 1 (2003); Chi đội 3 Giải phóng quân Nam tiến (2003); Hồ Chí Minh-Biên niên sự kiện quân sự 1919-1969 (2011); 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (2004)...