Chống ngập và xử lý nước thải cần đầu tư tổng thể theo lưu vực

Chiều 15/9, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cùng Tổng Lãnh sự quán Vương quốc Hà Lan tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo về chống ngập và thoát nước trong phát triển đô thị cùng giải pháp thực hiện các chỉ tiêu về thu gom, xử lý nước thải đô thị đến năm 2030.

Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Lê Ngọc Linh, Thành phố Hồ Chí Minh đang chịu tác động ngày càng rõ của thời tiết cực đoan, triều cường, nước biển dâng và sụt lún đất. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Lê Ngọc Linh, Thành phố Hồ Chí Minh đang chịu tác động ngày càng rõ của thời tiết cực đoan, triều cường, nước biển dâng và sụt lún đất. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Thách thức mất không gian trữ nước tự nhiên!

Ông Lê Ngọc Linh, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích khoảng 6.778km², địa hình và chế độ thủy văn giữa các khu vực có sự khác biệt lớn. Toàn Thành phố được chia thành 23 lưu vực chính.

Thành phố cũng đang chịu tác động ngày càng rõ của thời tiết cực đoan, triều cường, nước biển dâng và sụt lún đất. Trong khi đó, một số quy hoạch trước đây không còn phù hợp. Đặc biệt, hệ thống kênh rạch, cống thoát nước và trạm bơm chưa đồng bộ, khiến khả năng kiểm soát và dành không gian cho thoát nước còn hạn chế.

Sau khi mở rộng địa giới hành chính, hiện Thành phố ghi nhận 159 điểm thường xuyên ngập, gồm 76 điểm tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cũ, 52 điểm thuộc Bình Dương cũ và 31 điểm thuộc Bà Rịa-Vũng Tàu cũ.

Để giải quyết tình trạng này, trong giai đoạn 2026-2030, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến hoàn thành 87 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 140 nghìn tỷ đồng, hướng đến giải quyết cơ bản 50 vị trí ngập trên địa bàn.

Theo lãnh đạo Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, việc chống ngập thời gian tới cần chuyển từ xử lý từng điểm sang quản lý tổng thể theo lưu vực. Các giải pháp phải tính đến đồng thời mưa cực đoan, triều cường, nước biển dâng, sụt lún đất, quy hoạch đô thị và không gian trữ nước.

Đơn vị tư vấn chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh (Công ty tư vấn kỹ thuật quốc tế Royal HaskoningDHV-Haskoning) đánh giá: Các thách thức ngập tại thành phố là địa hình thấp, đô thị hóa làm tăng dòng chảy mặt, mất dung tích trữ nước, hệ thống thoát nước cũ kỹ, thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, khu vực ngoại thành chưa được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh, mưa lớn kết hợp với triều cường, biến đổi khí hậu và sụt lún đất.

Đơn vị tư vấn cũng cảnh báo, theo số liệu đo đạc từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tốc độ sụt lún đất trung bình tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long là 2cm/năm; riêng một số khu vực mới phát triển, tốc độ lún còn lớn hơn 2cm/năm.

Nêu cụ thể về tình trạng sụt lún tại khu vực chợ Thủ Đức, đại diện Haskoning cho biết: Từ năm 1990 đến năm 2020, diện tích đô thị tại Thủ Đức bùng nổ (năm 1990 đô thị chỉ tập trung ở phía bắc và một phần rất nhỏ ở phía nam, nhưng đến năm 2020 đã lan rộng ra hầu như toàn bộ khu vực).

Sụt lún đi đôi với tình trạng ngập úng gia tăng tại khu vực chợ Thủ Đức. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Sụt lún đi đôi với tình trạng ngập úng gia tăng tại khu vực chợ Thủ Đức. (Ảnh: QUÝ HIỀN)

Từ đó, dẫn đến mất hoàn toàn các không gian trữ nước tự nhiên. Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, Hakoning đưa ra một số giải pháp chống ngập cho thành phố như san nền, Polder, tận dụng các vùng thoát nước tự nhiên.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền nam đánh giá: Quy hoạch chống ngập phải hướng tới tầm nhìn ít nhất vài chục năm đến 100 năm để bảo vệ giá trị kinh tế ngày càng cao của các công trình trên mặt đất tại Thành phố Hồ Chí Minh.

“Nếu áp dụng phương án "trì hoãn, lưu trữ và thoát nước" mà phải đắp hai con đê cao dọc hai bên sông Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mất toàn bộ không gian cảnh quan ven sông và không khác gì đê sông Hồng ở Hà Nội”, ông Quỳnh đưa ra tình huống.

Vì vậy, theo ông Quỳnh, đơn vị tư vấn chống ngập cho Thành phố cần quan tâm khảo sát mức độ và tốc độ lún đất, mức độ nước biển dâng một cách nghiêm túc để có cơ sở đánh giá cũng như đưa ra giải pháp chống ngập một cách khoa học, căn cơ.

Phó Giám đốc Sở Xây dựng Lê Ngọc Linh nhấn mạnh, sắp tới thành phố chống ngập dựa vào quy hoạch và phát triển đô thị chứ không chỉ dựa vào mô hình chống ngập cũ kỹ như lâu nay. Việc thực hiện bắt đầu từ mô hình, giải pháp mới đến hình thức đầu tư. Đồng thời các dự án chống ngập sẽ được tích hợp vào quy hoạch chung của Thành phố Hồ Chí Minh.

Tỷ lệ thu gom nước thải mới đạt 52%

Bên cạnh chống ngập, một trong những thách thức lớn của Thành phố Hồ Chí Minh là nâng tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải đô thị. Theo lộ trình đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu thu gom nước thải đô thị đạt từ 80% trở lên. Tuy nhiên, đến nay, tỷ lệ thu gom nước thải toàn thành phố mới đạt khoảng 52%, trong khi tỷ lệ nước thải được xử lý đạt quy chuẩn chỉ khoảng 19,5%.

Ông Lê Ngọc Linh cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở công suất các nhà máy xử lý mà còn ở tính đồng bộ của cả hệ thống, gồm mạng lưới thu gom, nhà máy xử lý và các công trình liên quan.

Song song đó, Thành phố xác định phải đẩy nhanh mạng lưới thu gom thông qua việc lồng ghép đầu tư hệ thống thoát nước, thu gom nước thải trong các dự án cải tạo đường, hẻm, chỉnh trang đô thị, chống ngập, cải tạo kênh rạch và các dự án hạ tầng kỹ thuật khác. Cách làm này vừa tận dụng nguồn lực đầu tư, vừa tránh đào đường nhiều lần, tránh trùng lặp khối lượng và giảm ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Đối với các dự án mới, nhà máy xử lý và mạng lưới thu gom cần được chuẩn bị đầu tư, xây dựng và đưa vào vận hành theo cùng một lộ trình, bảo đảm tính đồng bộ.

Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc-Thị Nghè hiện đạt khoảng 80% tiến độ, dự kiến đưa vào vận hành trong quý I/2027. (Ảnh: VÕ LÊ)·

Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc-Thị Nghè hiện đạt khoảng 80% tiến độ, dự kiến đưa vào vận hành trong quý I/2027. (Ảnh: VÕ LÊ)·

Trong chương trình hành động nhiệm kỳ 2026-2030, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến triển khai danh mục các dự án thu gom, xử lý nước thải với nhu cầu vốn lớn. Ngoài nguồn vốn ngân sách, Thành phố định hướng đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội thông qua hình thức đối tác công tư (PPP).

"Đối với các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng nhà máy, yêu cầu đặt ra là nhà máy và mạng lưới phải được chuẩn bị, đầu tư và đưa vào vận hành theo cùng một lộ trình, hạn chế tình trạng công trình hoàn thành nhưng thiếu nước thải đầu vào hoặc mạng lưới hoàn thành nhưng chưa có khả năng xử lý”, ông Linh nói.

Về công nghệ, Sở Xây dựng cho biết, quan điểm của Thành phố là không lựa chọn công nghệ chỉ dựa trên mức độ hiện đại. Công nghệ phải được đánh giá trên toàn bộ vòng đời, bao gồm chất lượng nước sau xử lý, nhu cầu quỹ đất, suất đầu tư, tiêu hao năng lượng, chi phí vận hành-bảo trì, khả năng mở rộng công suất, mức độ tự động hóa và khả năng làm chủ của đơn vị vận hành.

Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng GIS, BIM, SCADA và dữ liệu số trong quản lý tài sản, lưu lượng và chất lượng nước thải. Xa hơn, Thành phố mong muốn từng bước chuyển từ tư duy "xử lý nước thải để xả thải” sang "xử lý gắn với tái sử dụng". Nước thải sau xử lý cần đáp ứng tiêu chuẩn phù hợp, có thể trở thành một nguồn tài nguyên phục vụ nhu cầu đô thị, sản xuất và môi trường...

QUÝ HIỀN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/chong-ngap-va-xu-ly-nuoc-thai-can-dau-tu-tong-the-theo-luu-vuc-post988705.html