Chứng chỉ hành nghề: Giấy 'thông hành' hay rào cản?
Từ năm 2026, quy định giáo viên phải có chứng chỉ hành nghề mới được giảng dạy chính thức sẽ áp dụng.

Một tiết học của Trường Tiểu học Lê Đình Chinh (Hòa Cương, Đà Nẵng). Ảnh: NTCC
Bên cạnh sự đồng thuận về mục tiêu nâng chuẩn đội ngũ, nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn về cách thức triển khai, làm sao để chính sách đi vào thực chất, tránh tạo thêm áp lực và rào cản không cần thiết cho người mới vào nghề.
Chủ động trước yêu cầu mới
Nguyễn Phương Linh - sinh viên năm cuối ngành Sư phạm Tiếng Anh, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Thái Nguyên) đang tích cực chuẩn bị cho chặng đường sau tốt nghiệp. Trước đó, Linh có thời gian thực tập tại Trường THPT Ngô Quyền (phường Quyết Thắng, Thái Nguyên). Điều đó không chỉ giúp Linh củng cố kiến thức chuyên môn mà còn mang lại những trải nghiệm thực tế quý báu trong môi trường sư phạm phổ thông.
Theo Linh, để sẵn sàng bước vào nghề, ngoài học tập nghiêm túc, sinh viên cần chủ động rèn luyện kỹ năng giảng dạy, giao tiếp sư phạm, ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng thích nghi với yêu cầu đổi mới giáo dục. “Việc đứng lớp thực tế giúp em hiểu rõ hơn áp lực và trách nhiệm nghề giáo. Điều này khiến em ý thức hơn về việc chuẩn bị đầy đủ hành trang trước khi ra trường”, Linh chia sẻ.
Đề cập đến quy định mới về chứng chỉ hành nghề giáo viên theo Luật Nhà giáo, Nguyễn Phương Linh bày tỏ sự đồng tình. Theo quy định này, sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp không chỉ cần bằng cử nhân mà phải có chứng chỉ hành nghề để được công nhận nhà giáo, thay vì chỉ cần bằng cấp như trước.
“Bất kỳ nghề nào khi hành nghề cũng cần có chứng chỉ để đảm bảo năng lực chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp. Giáo viên, dù dạy ở trường công lập, tư thục hay trung tâm giáo dục, đều nên có chứng chỉ hành nghề”, Linh nhấn mạnh. Theo Linh, quy định này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tạo sự công bằng trong hoạt động nghề nghiệp.
Cùng quan điểm, Nguyễn Mạnh Hùng - sinh viên năm cuối ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Thái Nguyên) cho rằng chứng chỉ hành nghề giáo viên là yêu cầu phù hợp với xu thế phát triển xã hội. Trong quá trình học tập, Hùng từng thực tập tại Trường THPT Gang Thép (phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên), qua đó rèn luyện bản lĩnh đứng lớp, kỹ năng tổ chức hoạt động dạy học và xử lý tình huống sư phạm.
Theo Hùng, nghề giáo không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn mà còn cần năng lực sư phạm, đạo đức nghề nghiệp và khả năng thích ứng với sự đổi mới giáo dục. “Chứng chỉ hành nghề sẽ minh chứng rõ ràng cho năng lực đội ngũ nhà giáo, đồng thời tạo động lực để sinh viên sư phạm và giáo viên không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân”, Hùng chia sẻ.
Cùng bày tỏ sự quan tâm, Nguyễn Văn Mẫn - sinh viên năm cuối ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học An Giang (ĐHQG TPHCM) cho rằng chứng chỉ hành nghề, nếu triển khai hiệu quả sẽ là công cụ quan trọng đảm bảo chất lượng đội ngũ và nâng cao vị thế nghề giáo. Tuy nhiên, Mẫn lo ngại nếu quy trình cấp chứng chỉ quá phức tạp, nặng về lý thuyết và thủ tục hành chính, sẽ trở thành rào cản đối với sinh viên mới ra trường, thậm chí tạo ra “khoảng trống thất nghiệp” do thiếu đồng bộ với thời điểm tốt nghiệp.
Theo Mẫn, giải pháp tối ưu là tích hợp chứng chỉ hành nghề vào chương trình đào tạo đại học sư phạm, lấy kết quả thực tập và chuẩn đầu ra làm căn cứ xét cấp. Đồng thời, sinh viên mong ngành Giáo dục sớm ban hành lộ trình, tiêu chí và hình thức đánh giá rõ ràng, giúp người học chủ động chuẩn bị và yên tâm theo đuổi nghề. Mẫn cho biết, nếu quy định này được triển khai, em sẵn sàng chủ động hoàn thiện chứng chỉ trong thời gian sớm nhất để đủ điều kiện hành nghề sau khi tốt nghiệp.

Sinh viên Giáo dục mầm non, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng tham gia Hội thi Nghiệp vụ sư phạm. Ảnh: NTCC
Giáo viên trẻ băn khoăn
Thầy Lê Văn Nhân - giáo viên Trường Hội nhập iSchool Rạch Giá (An Giang), cho rằng việc nâng chuẩn đội ngũ giáo viên là cần thiết và đúng định hướng. Tuy nhiên, theo thầy, việc tách riêng chứng chỉ hành nghề sau đào tạo đại học chưa thật sự hợp lý.
“Điều khiến giáo viên trẻ lo lắng không phải việc được đánh giá năng lực, mà là nguy cơ phát sinh thêm khâu thủ tục mang tính hình thức, chồng chéo. Trong khi đó, sinh viên sư phạm được đào tạo bài bản, có thời gian thực tập, tập sự và được đánh giá năng lực trước khi đứng lớp”, thầy Nhân chia sẻ.
Theo thầy Nhân, chứng chỉ hành nghề nên được tích hợp trong chương trình đào tạo đại học sư phạm, xem đây là đầu ra bắt buộc. Khi sinh viên tốt nghiệp đồng nghĩa đã đạt chuẩn hành nghề, thay vì phải tiếp tục học, thi và xin cấp thêm một loại giấy tờ khác. Cách làm này giúp tránh chồng chéo, giảm áp lực, tiết kiệm thời gian và chi phí cho giáo viên mới ra trường, nhất là trong bối cảnh thu nhập và điều kiện làm việc của giáo viên trẻ còn nhiều khó khăn.
Thực tế, giáo viên trẻ khi vào nghề phải đối mặt với nhiều áp lực như thích nghi môi trường, đứng lớp, hoàn thiện hồ sơ sổ sách, tham gia bồi dưỡng thường xuyên. Nếu tiếp tục bổ sung chứng chỉ riêng lẻ với nhiều thủ tục hành chính, dễ khiến chứng chỉ trở thành rào cản, làm giảm động lực gắn bó với nghề, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn về kinh tế - xã hội.
Theo thầy Nhân, nếu cần đánh giá năng lực hành nghề, nên tập trung vào năng lực thực hành trong quá trình đào tạo và tập sự, chú trọng kỹ năng dạy học, quản lý lớp, đạo đức nghề nghiệp và khả năng thích ứng với đổi mới giáo dục, thay vì thiên về kiểm tra hồ sơ hay lý thuyết. Đồng thời, cần tinh giản thủ tục, thống nhất chuẩn đánh giá.
Chuẩn nghề nghiệp chung
PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng bày tỏ: “Nhiều năm, chúng ta quen nhìn nghề giáo như một vị trí công tác trong hệ thống nhà nước hoặc các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn ở góc độ bản chất nghề nghiệp, thì nhà giáo được xã hội trao quyền tác động trực tiếp đến trí tuệ, nhân cách và tương lai của người học. Với ý nghĩa đó, việc đặt vấn đề về chứng chỉ hành nghề giáo, theo tôi, là một hướng tiếp cận phù hợp với xu thế quản trị nghề nghiệp hiện đại”.
Ở nhiều quốc gia, các nghề có tác động lớn đến con người như bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư… được quản lý theo một nguyên tắc chung: Đào tạo là một giai đoạn, còn được xã hội cho phép hành nghề độc lập lại là giai đoạn tiếp theo. Người học có thể tốt nghiệp đại học, nhưng chỉ khi đáp ứng các chuẩn nghề nghiệp và được cơ quan có thẩm quyền công nhận, họ mới chính thức được hành nghề.
Cách làm này, theo Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, không nhằm gây khó khăn cho người lao động, mà để bảo đảm niềm tin của xã hội đối với những nghề có mức độ rủi ro và trách nhiệm cao.
Với nhà giáo cũng vậy. Sinh viên sư phạm hoặc cử nhân các ngành khoa học có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, về nguyên tắc, đã đủ điều kiện chuyên môn để bước vào nghề. Tuy nhiên, hành nghề dạy học lại diễn ra trong môi trường thực, với học sinh thật, lớp học thật và nhiều tình huống sư phạm phức tạp.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, việc có một giai đoạn thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp và được đánh giá, công nhận trước khi chính thức được cấp chứng chỉ hành nghề là hợp lý, đồng thời góp phần bảo đảm quyền lợi, sự yên tâm nghề nghiệp và sự bảo vệ pháp lý cho giáo viên.
PGS.TS Võ Văn Minh đề xuất, đối với sinh viên sư phạm, yêu cầu về chứng chỉ hành nghề có thể được tích hợp ngay trong quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo không chỉ trang bị kiến thức và kỹ năng, mà cần tạo điều kiện để người học thể hiện năng lực dạy học thực tế, đạo đức nghề nghiệp và khả năng xử lý các tình huống giáo dục. Khi tốt nghiệp, sinh viên cần đạt đến trạng thái “sẵn sàng hành nghề”, tức là đủ điều kiện để được xem xét cấp chứng chỉ hành nghề trên cơ sở các kết quả thực tập và đánh giá nghề nghiệp.
“Đối với những người không được đào tạo ban đầu theo ngành sư phạm nhưng có nguyện vọng làm giáo viên, họ vẫn có thể tham gia vào nghề thông qua các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm chuẩn hóa và một kỳ sát hạch nghề nghiệp nghiêm túc. Điều quan trọng là mọi con đường vào nghề cần gặp nhau cùng ở một chuẩn nghề nghiệp chung, để bảo đảm chất lượng và sự công bằng”, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là cơ chế cấp và quản lý chứng chỉ hành nghề. “Nếu các cơ sở đào tạo vừa đào tạo vừa cấp chứng chỉ thì có thể phát sinh những băn khoăn về tính khách quan.
Vì vậy, về lâu dài, có thể cân nhắc mô hình một hội đồng hoặc cơ quan nghề nghiệp với sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, các trường sư phạm, hệ thống giáo dục phổ thông và các chuyên gia, để thực hiện việc sát hạch, cấp, gia hạn và thu hồi chứng chỉ hành nghề. Khi đó, chuẩn nghề nghiệp sẽ phản ánh tốt hơn kỳ vọng chung của xã hội đối với đội ngũ nhà giáo”, ông Minh đề xuất.
Ngoài ra, theo Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, việc có cơ chế thu hồi chứng chỉ hành nghề trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng về chuyên môn hoặc đạo đức nên được nhìn nhận bình tĩnh.
Đây không phải là hình thức trừng phạt, mà là một cách để bảo vệ người học và giữ gìn uy tín, danh dự của nghề giáo. Một nghề chỉ thật sự được xã hội tôn trọng khi nó có những chuẩn mực rõ ràng và khả năng tự bảo vệ mình trước những biểu hiện lệch chuẩn.
“Nếu được thiết kế và triển khai một cách thận trọng, minh bạch và dựa trên các nguyên lý nghề nghiệp, chứng chỉ hành nghề giáo, theo tôi, sẽ không phải là “giấy phép con”, mà có thể trở thành một công cụ góp phần nâng cao chất lượng và vị thế của đội ngũ nhà giáo trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay”, PGS.TS Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng cho biết.













