Chuyên đề 'Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới'
Chuyên đề do Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà trình bày
Trên cơ sở đánh giá kết quả của gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08 NQ/TW của Bộ Chính trị, sự cần thiết và yêu cầu đặt ra, kế thừa các thành tựu đạt được, đổi mới, phát triển tư duy, tầm nhìn mới về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã xác lập những quan điểm, mục tiêu, định hướng cốt lõi cho phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Du lịch phải thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới
Về quan điểm chỉ đạo, nghị quyết xác định 5 quan điểm mang tính đột phá:
Thứ nhất, điểm mới trước hết là đã xác lập rõ vị trí, vai trò nền tảng của phát triển du lịch trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước. Theo đó, phát triển du lịch phải thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh, dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà trình bày chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: Phạm Thắng
Thứ hai, phát triển theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực phát triển các lĩnh vực, bảo đảm phát triển bền vững các trụ cột kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng ngoại giao văn hóa, hội nhập quốc tế.
Thứ ba, tái cơ cấu ngành du lịch, chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch, dịch vụ gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội.
Thứ tư, đổi mới và nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, quản trị theo dữ liệu gắn với quy hoạch không gian phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản.
Thứ năm, xác định rõ các chủ thể và phương thức huy động nguồn lực. Phát triển du lịch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lấy doanh nghiệp là lực lượng tiên phong; Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng; tăng cường liên kết ngành, liên kết vùng và phân bổ, sử dụng huy động hiệu quả các nguồn lực trong nước, quốc tế.
Trên cơ sở 5 quan điểm chỉ đạo, nghị quyết xác định mục tiêu chung: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hoá, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển
Mục tiêu cụ thể là phấn đấu đến năm 2030; du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD. Hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia; xây dựng được 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế. Tạo ra khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.
Đến năm 2045, du lịch đóng góp trực tiếp 14 - 15% GDP, đón 70 triệu lượt khách quốc tế, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam.
Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược, phát huy và khơi thông nguồn lực phát triển du lịch
Nghị quyết nhấn mạnh 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trọng tâm như sau:
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ nhất là đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong phát triển du lịch với 4 chuyển đổi trọng tâm. Theo đó, định vị rõ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, đặt trong tổng thể mô hình tăng trưởng và không gian phát triển quốc gia; chuyển dịch tư duy phát triển từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên đơn thuần sang mô hình phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao; đổi mới tư duy quản lý đơn lẻ sang quản trị hệ sinh thái du lịch, liên kết đồng bộ trong chuỗi giá trị; lồng ghép mục tiêu du lịch vào chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và phát huy vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, cộng đồng dân cư, đặc biệt là trong chiến lược liên kết vùng.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ hai là hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược, phát huy và khơi thông nguồn lực phát triển du lịch. Nhóm nhiệm vụ này có nhiều nội dung mới, trong đó cần nhấn mạnh 3 vấn đề trọng tâm: Hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách đột phá cho các mô hình du lịch mới như: kinh tế chia sẻ, kinh tế trên nền tảng số và các loại hình dịch vụ mới, có chính sách hỗ trợ về đầu tư, đất đai, tài chính, thủ tục, thuế, mặt bằng…. Có cơ chế chính sách đối với các nền tảng du lịch trực tuyến xuyên biên giới, khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, du lịch thông minh, du lịch xanh và các mô hình du lịch số; thực hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Tiếp tục hoàn thiện chính sách thị thực, xuất nhập cảnh theo hướng thông thoáng, thực sự thuận tiện, linh hoạt và cạnh tranh hơn; mở rộng diện đối tượng miễn thị thực song phương; có chính sách thị thực ưu đãi đối với phân khúc khách có khả năng đóng góp cao cho phát triển du lịch trên cơ sở đảm bảo quốc phòng an ninh và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây là nhiệm vụ tôi mong các đại biểu nghiên cứu vì là vấn đề mới, rất thiết thực để thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam.
Có cơ chế, chính sách huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư phát triển du lịch; phát huy nguồn lực nhà nước, có trọng tâm dẫn dắt; đẩy mạnh hợp tác công tư, thu hút đầu tư chiến lược, các tập đoàn lớn, ưu tiên các dự án, tổ hợp du lịch quy mô lớn, chất lượng cao có khả năng tạo sản phẩm mới, nâng tầm điểm đến và sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ ba là phát triển hạ tầng đồng bộ, hình thành các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh cao. Vấn đề mới là chuyển từ đầu tư hạ tầng đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hạ tầng, hình thành hệ sinh thái, các trung tâm và cực tăng trưởng du lịch có sức cạnh tranh quốc tế. Tập trung đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế đến các trung tâm du lịch, nhất là cao tốc, hàng không, đường sắt, cảng biển; trong đó chú trọng hạ tầng du lịch đường biển đủ năng lực tiếp nhận tàu cỡ lớn để đưa Việt Nam thành điểm đến quan trọng trong hành trình du lịch tàu biển khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Chủ động bố trí quỹ đất, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các doanh nghiệp có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tham gia phát triển các dự án động lực, khu phức hợp quy mô lớn, hình thành các trung tâm nghỉ dưỡng biển, đảo chất lượng cao, trung tâm mua sắm, ẩm thực, giải trí hoạt động 24/7, phố lễ hội, mua sắm hàng hiệu đạt chuẩn quốc tế ưu đãi về giá (outlet).
Đồng thời, phát huy cao độ cơ chế, chính sách đặc thù quy định trong Luật Phát triển đô thị và các pháp luật có liên quan thúc đẩy Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thành các cực tăng trưởng mạnh cùng các đô thị di sản trở thành các trung tâm du lịch trọng điểm, dẫn dắt phát triển vùng, đất nước; từng bước đưa Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng mới có sức cạnh tranh quốc tế.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ tư là phát triển thị trường, sản phẩm du lịch chất lượng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch. Trong đó, trọng tâm là chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, giá trị và hiệu quả, phát huy lợi thế khác biệt về văn hóa, di sản thiên nhiên, ẩm thực. Lấy bản sắc, chất lượng và trải nghiệm khác biệt làm phương thức cạnh tranh chủ đạo, tập trung thu hút khách chi tiêu cao, lưu trú nhiều ngày. Gắn kết chặt chẽ giữa du lịch với công nghiệp văn hóa như: điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang, kinh tế đêm và định vị vững chắc thương hiệu ẩm thực Việt Nam trên bản đồ thế giới. Ưu tiên phát triển các sản phẩm chiến lược như nghỉ dưỡng biển, chăm sóc sức khỏe, thể thao đẳng cấp, du lịch sự kiện (MICE) và mua sắm. Phát triển du lịch cộng đồng gắn với sinh thái nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào, dân tộc thiểu số để phát huy văn hóa bản địa, bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số; quyết tâm mỗi một địa phương có những sản phẩm du lịch đặc thù khác riêng biệt, nổi trội, có sức cạnh tranh.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ năm là tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam. Đổi mới theo hướng thống nhất, chuyên nghiệp, số hóa có trọng tâm trọng điểm, lấy dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) làm nền tảng để tiếp cận thị trường, quản trị điểm đến và định vị thương hiệu Việt Nam khác biệt, dầu bản sắc văn hóa, có sức cạnh tranh toàn cầu. Tiếp tục phát huy cao hơn nữa về ngoại giao văn hóa, điện ảnh, truyền thông quốc tế, mạng lưới đại sứ, du lịch số và các cơ quan đại diện Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài gắn xúc tiến du lịch với mở rộng kết nối hàng không và thu hút dòng khách có giá trị gia tăng cao.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ sáu là phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trọng tâm là đổi mới căn bản đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu thị trường, chuẩn quốc tế và yêu cầu chuyển đổi số, gắn chặt nhà nước – cơ sở đào tạo – doanh nghiệp; có chính sách đãi ngộ vượt trội để thu hút nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thuận lợi để doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới, liên kết, tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu; thúc đẩy liên kết vùng, liên kết xuyên biên giới về sản phẩm, hạ tầng, xúc tiến, kiến tạo và chia sẻ dữ liệu; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, hỗ trợ, đào tạo kỹ năng cho lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sinh kế bền vững từ du lịch, nhất là du lịch cộng đồng.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ bảy là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh. Hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông và nền tảng số tích hợp đa dạng dịch vụ. Đẩy mạnh số hóa tại các khu, điểm du lịch, tự động hoá thủ tục xuất nhập cảnh và ứng dụng mạnh mẽ bản đồ số, vé điện tử, trợ lý ảo đa ngôn ngữ, tăng cường ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị, sử dụng hiệu quả năng lượng, giám sát môi trường gắn phát triển du lịch thông minh với yêu cầu chuyển đổi xanh.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ tám là đổi mới phương thức quản trị du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến du lịch xanh, thông minh, an toàn, bền vững. Trước hết là nâng cao năng lực quản trị du lịch hiện đại, thông minh, bền vững thông qua cơ chế điều phối, liên kết đa ngành, liên vùng và kết nối chuỗi giá trị doanh nghiệp. Xây dựng, vận hành hệ thống điều hành du lịch thông minh quốc gia, quản trị hiệu quả sức chứa, phân luồng khách. Phát triển hệ thống điểm đến du lịch xanh, ưu tiên đầu tư hạ tầng xử lý rác thải, áp dụng tín chỉ carbon và các tiêu chuẩn xanh. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, quản trị rủi ro và kế hoạch ứng phó khủng hoảng để nâng cao khả năng chống chịu của ngành trước các biến động, bảo đảm phát triển an toàn, bền vững.
