Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Theo ông, trước áp lực giảm lao động, đô thị hóa và nhu cầu thực phẩm an toàn, Đồng bằng sông Hồng cần chuyển đổi sang kinh tế nông nghiệp sinh thái như thế nào?

Theo ông, trước áp lực giảm lao động, đô thị hóa và nhu cầu thực phẩm an toàn, Đồng bằng sông Hồng cần chuyển đổi sang kinh tế nông nghiệp sinh thái như thế nào?

Đồng bằng sông Hồng giữ vị thế đặc biệt trong phát triển nông nghiệp Việt Nam với điều kiện sinh thái đa dạng, gồm 4 tiểu vùng: ven biển, phù sa mới, phù sa cổ và trung du. Vùng có hệ thống sông ngòi, thủy lợi thuận lợi, khí hậu cho phép sản xuất cả vụ hè và vụ đông. Bên cạnh đó, đây còn là khu vực có truyền thống sản xuất lâu đời, cùng mạng lưới hợp tác xã, trang trại, làng nghề và các vùng sản xuất hàng hóa tương đối phát triển.

Tuy nhiên, Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững hơn. Nhu cầu đối với thực phẩm chất lượng, an toàn và giàu dinh dưỡng ngày càng tăng, trong khi lao động nông nghiệp ngày càng giảm do đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự tập trung dân cư tại các thành phố, khu công nghiệp.

Vì vậy, bài toán đặt ra không phải là duy trì phương thức sản xuất cần nhiều lao động, mà là tạo ra giá trị cao hơn với nguồn lao động ít hơn. Điều này đòi hỏi nền nông nghiệp phải dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ, tổ chức sản xuất, dịch vụ, liên kết thị trường và lợi thế sinh thái của từng địa phương.

Đây cũng là cơ sở để chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ phát triển riêng lẻ từng cây, con sang phát triển một hệ sinh thái nông nghiệp toàn diện, gắn với chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng minh bạch, trách nhiệm và bền vững, phù hợp với Quyết định số 300/QĐ-TTg ngày 28/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững ở Việt Nam đến năm 2030.

Theo đó, cần tăng cường kết nối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa nông thôn với đô thị, đồng thời hài hòa các mục tiêu về kinh tế, môi trường và sức khỏe cộng đồng. Giá trị của nông nghiệp không chỉ nằm ở sản phẩm thu hoạch từ đồng ruộng, mà còn ở chất lượng môi trường, cảnh quan, văn hóa, dịch vụ và những giá trị gia tăng được tạo ra trong toàn bộ chuỗi.

Một hướng đi đáng chú ý là kết nối nông nghiệp với du lịch và văn hóa địa phương. Hệ sinh thái du lịch Tràng An - Tam Cốc (Ninh Bình) cho thấy hiệu quả của sự phối hợp giữa chính quyền, người dân và cộng đồng trong phát triển điểm đến sinh thái, thân thiện với du khách.

Trong mô hình gắn du lịch với nông nghiệp, nông thôn, cần chú trọng khai thác các giá trị văn hóa bản địa, đặc biệt là văn hóa ẩm thực địa phương. Đây không chỉ là cách tạo thêm nguồn thu cho người dân mà còn góp phần bảo tồn văn hóa, duy trì cảnh quan và hình thành những giá trị kinh tế, xã hội và môi trường mới cho cộng đồng.

Xin ông cho biết khái niệm nông nghiệp sinh thái theo Liên hợp quốc và các nhóm nguyên tắc cốt lõi khi áp dụng mô hình này tại Việt Nam?

Xin ông cho biết khái niệm nông nghiệp sinh thái theo Liên hợp quốc và các nhóm nguyên tắc cốt lõi khi áp dụng mô hình này tại Việt Nam?

Theo Liên hợp quốc, phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững là phương thức nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng cường khả năng chống chịu, bảo đảm công bằng và trách nhiệm xã hội trong hệ thống nông nghiệp và thực phẩm, qua đó góp phần bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng cho hiện tại và tương lai.

Nông nghiệp sinh thái dựa trên ba nguyên tắc: cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên; tăng khả năng chống chịu; bảo đảm công bằng và trách nhiệm xã hội. Sử dụng hiệu quả tài nguyên nhằm tối ưu hóa đầu vào, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm ô nhiễm và thu hẹp khoảng cách năng suất. Tăng khả năng chống chịu giúp thích ứng, quản trị rủi ro và phục hồi trước các cú sốc về môi trường, kinh tế và dịch bệnh. Công bằng và trách nhiệm xã hội bao gồm phân phối thu nhập, bình đẳng giới, quyền con người, an sinh, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và phúc lợi con người, vật nuôi.

Cách tiếp cận này ưu tiên các quá trình tự nhiên, giảm phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài, thúc đẩy chu trình khép kín, phát huy tri thức địa phương và sự tham gia của nhiều bên. Chuyển đổi từ nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào hóa chất sang nông nghiệp sinh thái cần được thực hiện từng bước, với sự đồng hành của Nhà nước và nông dân. 13 nguyên tắc nông nghiệp sinh thái áp dụng tại Việt Nam có thể khái quát thành ba nhóm.

Nhóm thứ nhất, cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên: tái chế, tái sử dụng tài nguyên địa phương, khép kín chu trình dinh dưỡng và sinh khối; giảm vật tư mua ngoài, tăng cường nguồn lực tại chỗ.

Nhóm thứ hai, tăng cường khả năng chống chịu: nâng cao sức khỏe đất thông qua quản lý hữu cơ và sinh học; bảo đảm phúc lợi động vật theo cách tiếp cận Một sức khỏe; đa dạng loài, giống và nguồn gen; tăng cường sự cộng hưởng giữa đất, nước, cây trồng và vật nuôi; đồng thời đa dạng hóa kinh tế, gia tăng thu nhập cho nông hộ nhỏ.

Nhóm thứ ba, bảo đảm công bằng và trách nhiệm xã hội: đồng sáng tạo, chia sẻ kiến thức giữa nông dân và nhà khoa học; phát huy giá trị văn hóa, xã hội và chế độ ăn lành mạnh; bảo đảm công bằng về sinh kế, việc làm, thương mại và sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh đó, cần kết nối sản xuất với tiêu dùng thông qua mạng lưới phân phối ngắn, công bằng, gắn với kinh tế địa phương; nâng cao quản trị đất đai, tài nguyên và ghi nhận vai trò của nông hộ nhỏ trong bảo vệ đa dạng sinh học.

Đồng bằng sông Hồng cần hướng đi như thế nào để tổ chức lại sản xuất, phát triển chuỗi nông nghiệp xanh, tháo gỡ các điểm nghẽn hiện nay, thưa ông?

Đồng bằng sông Hồng cần hướng đi như thế nào để tổ chức lại sản xuất, phát triển chuỗi nông nghiệp xanh, tháo gỡ các điểm nghẽn hiện nay, thưa ông?

Đồng bằng sông Hồng cần phát triển nông nghiệp dựa trên lợi thế sinh thái, gắn vùng sản xuất với đô thị, thị trường, du lịch, làng nghề và các hoạt động trải nghiệm. Trọng tâm là tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã, trang trại và khuyến nông cộng đồng; đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và các dịch vụ nông nghiệp hiện đại để thích ứng với tình trạng thiếu lao động và biến đổi khí hậu.

Cùng với đó, cần phát triển các chuỗi giá trị xanh, tuần hoàn, hình thành những “thị trường neo” từ du lịch, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp và hệ thống phân phối. Mục tiêu là chuyển từ các sáng kiến riêng lẻ sang quá trình chuyển đổi có tổ chức ở quy mô vùng, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về điều phối liên ngành, tín dụng, chi phí chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, phục hồi đất và quản lý nước.

Để chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, thích ứng với khan hiếm lao động và kết nối đô thị, theo ông, Đồng bằng sông Hồng cần những nhóm giải pháp nào?

Để chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, thích ứng với khan hiếm lao động và kết nối đô thị, theo ông, Đồng bằng sông Hồng cần những nhóm giải pháp nào?

Theo tôi, cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp.

Một là, tổ chức lại sản xuất trong bối cảnh khan hiếm lao động. Hợp tác xã, trang trại và khuyến nông cộng đồng là những chủ thể quan trọng. Hợp tác xã không chỉ thụ hưởng chính sách mà cần tổ chức sản xuất, cơ giới hóa, số hóa, cung ứng dịch vụ đầu vào, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Trang trại là nơi sản xuất hàng hóa, thử nghiệm các quy trình sinh thái, tuần hoàn và công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng tài nguyên thay vì gia tăng lao động. Điển hình, mô hình gần 10 ha lúa cải tiến, giảm phát thải của Hợp tác xã Thanh niên Nam Đại Dương đã cho thấy hiệu quả trong giảm nhân công, nâng cao chất lượng và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.

Hai là, kết nối sản xuất với đô thị, dinh dưỡng và thị trường. Nhu cầu đô thị cần định hướng sản xuất từ vùng nguyên liệu, chế biến đến phân phối. Trường học, bệnh viện, khu công nghiệp, du lịch và các kênh bán lẻ có thể trở thành “thị trường neo” cho nông sản an toàn, sinh thái, có truy xuất nguồn gốc. Minh chứng là chuỗi cung ứng suất ăn của Hương Việt Sinh tới hơn 100 trường học tại Hà Nội và Bắc Ninh, hay mô hình BigGreen, Bác Tôm gắn kết người tiêu dùng với trang trại thông qua trải nghiệm và giáo dục dinh dưỡng.

Đồng thời, cần phát triển nông nghiệp đô thị, ven đô tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình theo hướng thông minh, tuần hoàn, qua đó tăng giá trị trên đơn vị diện tích, rút ngắn logistics và tạo không gian xanh.

Ba là, xây dựng hạ tầng tri thức và không gian học hỏi. Cần thúc đẩy quá trình học hỏi, chia sẻ kỹ thuật liên tục giữa nông dân, hợp tác xã, nhà khoa học và chính quyền địa phương.

Bốn là, tăng cường quản trị liên ngành, liên cơ quan. Do nông nghiệp xanh liên quan đến đất, nước, môi trường, an toàn thực phẩm, dinh dưỡng, công nghệ và tài chính, cần chuyển từ phối hợp hành chính sang phối hợp vì mục tiêu chung của hệ thống lương thực, thực phẩm.

Năm là, xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng và tăng cường kết nối từ địa phương đến khu vực. Các chính sách về hợp tác xã, khuyến nông, kinh tế tuần hoàn, sức khỏe đất và giảm phát thải cần được tích hợp thành một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, dựa trên đánh giá thực tiễn về kinh tế, xã hội và môi trường để hoàn thiện cơ chế, nhân rộng mô hình.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/chuyen-doi-nong-nghiep-dong-bang-song-hong-de-gia-tang-gia-tri.htm