Chuyển đổi phương thức nuôi trồng để giữ vững sinh kế
Những mô hình nuôi hiện đại không chỉ giúp người dân giữ vững thu nhập mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành thủy sản địa phương.
Trước tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiều hộ nuôi thủy sản ở Ninh Bình đã mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật mới để giảm rủi ro, nâng cao năng suất. Những mô hình nuôi hiện đại không chỉ giúp người dân giữ vững thu nhập mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành thủy sản địa phương.

Nuôi lươn không bùn là mô hình được nhiều hộ dân tỉnh Ninh Bình nhân rộng. Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN
* Nuôi lươn không bùn – ít diện tích, hiệu quả cao
Nhiều năm gắn bó với nghề nuôi trồng thủy sản, gia đình ông Phạm Văn Cường, xã Hải Tiến, tỉnh Ninh Bình đã từng nuôi nhiều đối tượng thủy sản theo phương thức truyền thống. Tuy nhiên, trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến thất thường, dịch bệnh trên thủy sản ngày càng phức tạp khiến hiệu quả sản xuất không ổn định, ông nhận thấy mô hình nuôi cũ không còn phù hợp. Sau thời gian tìm hiểu và học tập kinh nghiệm từ nhiều địa phương, năm 2021, gia đình ông đầu tư xây dựng mô hình nuôi lươn không bùn. Ông xây dựng 30 bể nuôi, mỗi bể có diện tích khoảng 6m2, thả khoảng 2.500 con giống/bể. Sau nhiều vụ nuôi thành công, ông từng bước hoàn thiện quy trình kỹ thuật và mở rộng quy mô sản xuất. Theo ông Cường, so với phương thức nuôi truyền thống, nuôi lươn không bùn có nhiều ưu điểm nổi bật. Mô hình không đòi hỏi diện tích lớn, có thể tận dụng những khoảng đất nhỏ trong khuôn viên gia đình, các chuồng trại cũ để xây dựng bể nuôi. Chi phí đầu tư không quá cao, dao động từ 3 – 5 triệu đồng/bể nuôi tùy theo thiết kế của mỗi hộ. Ông Cường cho biết, trong quá trình nuôi, việc quản lý môi trường nước là khâu quan trọng nhất trong quá trình nuôi lươn không bùn. Mỗi ngày, người nuôi phải kiểm tra màu nước, mực nước và theo dõi hoạt động của đàn lươn. Nước được thay định kỳ để loại bỏ chất thải và thức ăn dư thừa, giữ môi trường nuôi luôn sạch sẽ. Bên cạnh đó, cứ 7–10 ngày cần xử lý, vệ sinh bể và diệt nấm phát sinh nhằm hạn chế mầm bệnh. Nếu nguồn nước không đảm bảo, lươn rất dễ mắc các bệnh về đường ruột, nấm hoặc nhiễm khuẩn, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng. Sau khoảng 12–14 tháng nuôi, lươn đạt kích cỡ thương phẩm và được các thương lái thu mua với giá ổn định, xuất bán từ 30 – 40 tấn lươn thương phẩm/năm, doanh thu đạt khoảng 3 tỷ đồng/năm. Nhận thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình, gia đình ông đã mở rộng quy mô lên khoảng 500m2 với 60 bể nuôi. Không chỉ phát triển kinh tế cho gia đình, ông Cường còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên trong Hợp tác xã thủy sản và môi trường Gia Hưng, xã Hải Tiến.
Đến nay, đã có nhiều hộ mạnh dạn chuyển đổi từ nuôi thủy sản truyền thống sang nuôi lươn không bùn, góp phần hình thành vùng sản xuất tập trung, nâng cao giá trị kinh tế và tạo hướng phát triển bền vững cho nghề nuôi thủy sản tại địa phương.

Vệ sinh ao nuôi tôm công nghệ trước khi thả giống. Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN
* Hướng đi bền từ nuôi tôm công nghệ cao
Là xã ven biển, Giao Hòa là địa phương có truyền thống nuôi trồng thủy sản với trên 1.500ha, con nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng, ngao vạng, hàu giống. Trước đây, người dân Giao Hòa nuôi tôm theo phương pháp quảng canh, các ao nuôi được xây dựng nhỏ lẻ, việc chăm sóc, quản lý phần lớn dựa vào kinh nghiệm và quan sát thực tế. Quá trình sinh trưởng, phát triển của tôm phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, khi diễn biến thời tiết thất thường, phương thức sản xuất này bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều năm trở lại đây, đa số các hộ nuôi trên địa bàn xã đầu tư xây dựng nhà màng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, trong đó khu vực nuôi được bao phủ bằng màng nilon hoặc lưới chuyên dụng, tạo môi trường khép kín. Bên trong được đầu tư đồng bộ với ao lót bạt, hệ thống cấp, thoát nước, quạt tạo ôxy, cùng các thiết bị theo dõi, kiểm soát nhiệt độ và chất lượng môi trường nuôi. Ông Nguyễn Đoan Trang, thôn Lạc Hồng, xã Giao Hòa chia sẻ, gia đình ông nuôi tôm từ năm 1990. Năm 2014, sau khi nghiên cứu và học tập các mô hình nuôi tôm tiên tiến, gia đình ông cải tạo ao đầm xây dựng các nhà màng nuôi luân canh ngao giống và tôm thẻ chân trắng. Trên diện tích 1,8ha, gia đình ông xây dựng 29 nhà màng, trong đó có 26 nhà nuôi, 3 nhà để xử lý nước. Ông Trang chia sẻ, một trong những lợi ích nổi bật của mô hình nuôi tôm trong nhà màng là khả năng kiểm soát nhiệt độ và môi trường nước. Với đặc điểm là đối tượng nuôi nước mặn, lợ, khi xảy ra mưa lớn kéo dài, độ mặn trong ao giảm đột ngột, hoặc khi thời tiết quá nóng, quá lạnh, nếu nuôi theo phương pháp truyền thống thì tôm rất dễ bị sốc và chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Trong khi đó, nhà màng giúp hạn chế nước mưa rơi trực tiếp vào ao, giảm biến động về pH, độ mặn và nhiệt độ, từ đó duy trì môi trường nuôi ổn định. Nhờ vậy, tôm sinh trưởng tốt hơn, tỷ lệ sống cao, giảm đáng kể nguy cơ dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngoài việc kiểm soát môi trường nuôi, mô hình nhà màng còn cho phép tăng mật độ nuôi thả so với phương thức truyền thống. Nhờ hệ thống xử lý nước, sục khí và cung cấp ôxy hoạt động đồng bộ, người nuôi có thể thả tôm với mật độ cao mà vẫn bảo đảm điều kiện sinh trưởng.

Tôm nuôi nuôi trong các nhà màng công nghệ cao có năng suất, chất lượng vượt trội so với phương pháp truyền thống. Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN
Hiện, mỗi năm gia đình ông nuôi 1 vụ ngao giống và 2 vụ tôm. Sản lượng tôm cho thu hoạch đạt khoảng 70 tấn/năm, doanh thu trung bình hàng năm đạt khoảng 5 tỷ đồng.
Theo ông Trang, đầu tư nhà màng đòi hỏi nguồn vốn khá lớn, bình quân khoảng 400 triệu đồng cho mỗi ô nuôi. Tuy nhiên, nhờ chủ động kiểm soát môi trường nuôi, giảm thiểu rủi ro do thời tiết và dịch bệnh, mô hình mang lại năng suất, chất lượng tôm cao hơn, giúp người nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và tạo nền tảng cho sinh kế bền vững. Tỉnh Ninh Bình hiện có khoảng 35.000ha nuôi trồng thủy sản, trong đó, vùng nuôi áp dụng công nghệ cao tập trung ở khu vực nuôi nước mặn lợ tại các xã: Hải Xuân, Hải Thịnh, Giao Ninh, Giao Minh, Rạng Đông, Kim Đông… Các kỹ thuật tiên tiến hiện đang được người dân áp dụng như công nghệ quan trắc môi trường tự động, nuôi theo quy trình tiết kiệm nước, nuôi tuần hoàn nước, xử lý nước bằng vi sinh vật, nuôi không sử dụng kháng sinh, nuôi đa giai đoạn… giúp hạn chế dịch bệnh, tăng sản lượng. 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt trên 120.000 tấn. Ông Hoàng Mạnh Hà, Chi cục Trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư tỉnh Ninh Bình cho biết, thực hiện Kế hoạch phát triển thủy sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tỉnh sẽ tiếp tục phát triển hiệu quả các đối tượng nuôi chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể và các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá song, cá vược, cá trắm đen, cá lăng, cá chép tại các vùng nuôi tập trung. Đồng thời, khuyến khích mở rộng các mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; duy trì và từng bước mở rộng các vùng nuôi ngao đạt chứng nhận ASC nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu vào các thị trường lớn. Ngành cũng định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng tập trung, đa dạng, an toàn dịch bệnh, gắn với bảo vệ môi trường, tạo nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ trong nước.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/chuyen-doi-phuong-thuc-nuoi-trong-de-giu-vung-sinh-ke/428452.html











