Chuyển đổi số nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát ở Nghệ An

Trong yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chuyển đổi số đang đặt ra một phương thức mới cho ngành Kiểm tra Đảng: Từ xử lý hồ sơ thủ công sang quản lý, khai thác dữ liệu để nắm tình hình, phân tích, cảnh báo và nâng cao chất lượng tham mưu. Nghệ An đang từng bước chuyển đổi theo hướng đó, đồng thời đặt yêu cầu bảo mật, an toàn thông tin song hành với hiện đại hóa phương thức kiểm tra, giám sát.

Từ thay đổi cách làm đến thay đổi phương thức kiểm tra

Trước đây, hình dung về ứng dụng công nghệ trong công tác kiểm tra, giám sát thường bắt đầu từ những việc cụ thể: Máy tính, chữ ký số, phần mềm, hội nghị trực tuyến hay văn bản điện tử. Nhưng trong yêu cầu mới, chuyển đổi số phải được nhìn rộng hơn: Đó là sự thay đổi về cách thức tổ chức và thực hiện nhiệm vụ.

Khối lượng hồ sơ, tài liệu của ngành Kiểm tra Đảng ngày càng lớn; phạm vi kiểm tra, giám sát rộng; yêu cầu nắm tình hình ngày càng nhanh và chính xác. Nếu vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy, xử lý thủ công và kinh nghiệm cá nhân, cán bộ kiểm tra sẽ mất nhiều thời gian cho những khâu tra cứu, tổng hợp, đối chiếu. Ngược lại, khi dữ liệu được chuẩn hóa và tổ chức khoa học, việc tìm kiếm, tổng hợp, theo dõi tiến độ có thể nhanh hơn, chính xác hơn.

Định hướng của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong năm 2026 đã xác định mục tiêu chuyển đổi phương thức làm việc sang “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”, từng bước chuyển từ kiểm tra thủ công, giám sát theo vụ việc sang giám sát thường xuyên trên dữ liệu, phân tích dữ liệu và cảnh báo sớm rủi ro. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa về phương pháp. Dữ liệu, nếu được cập nhật đầy đủ và khai thác đúng cách, không chỉ giúp lưu giữ thông tin mà còn hỗ trợ cán bộ kiểm tra nhìn thấy những vấn đề cần quan tâm, theo dõi việc thực hiện kết luận, tổng hợp tình hình từ cơ sở và phục vụ tốt hơn công tác tham mưu.

Tuy nhiên, ngành Kiểm tra Đảng có đặc thù rất riêng: Nhiều hồ sơ, tài liệu liên quan trực tiếp đến tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật và có nội dung thuộc phạm vi phải bảo vệ nghiêm ngặt. Vì vậy, chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc mở rộng tối đa khả năng truy cập dữ liệu, mà phải bảo đảm dữ liệu được số hóa đúng quy định, lưu trữ an toàn, phân quyền đúng đối tượng và khai thác đúng thẩm quyền. Nói cách khác, chuyển đổi số trong ngành Kiểm tra Đảng phải đi bằng “hai chân”: Hiện đại hóa phương thức làm việc và siết chặt kỷ luật bảo mật thông tin. Đây vừa là yêu cầu đặc thù, vừa là thước đo quan trọng của quá trình chuyển đổi số.

Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hoa - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo tại hội nghị tập huấn về chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng năm 2026.

Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hoa - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy phát biểu chỉ đạo tại hội nghị tập huấn về chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng năm 2026.

Ở Nghệ An, yêu cầu đó đang được cụ thể hóa bằng những việc làm khá rõ nét. Trước hết là thay đổi nhận thức. Công tác tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai trong toàn ngành; phong trào “Bình dân học vụ số” được chú trọng, hướng tới việc giúp cán bộ, công chức không chỉ biết sử dụng thiết bị, phần mềm mà từng bước hình thành kỹ năng làm việc trên môi trường số.

Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 06-KH/UBKTTU ngày 17/1/2026 về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và chuyển đổi số trong ngành Kiểm tra Đảng năm 2026. Sau khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành Kế hoạch số 04-KH/UBKTTW ngày 23/3/2026 thay thế kế hoạch trước đó, Nghệ An tiếp tục ban hành Kế hoạch số 08-KH/UBKTTU ngày 30/3/2026, bảo đảm triển khai thống nhất, đồng bộ.

Các đại biểu dự Hội nghị tập huấn về chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng năm 2026.

Các đại biểu dự Hội nghị tập huấn về chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng năm 2026.

Tại 136/136 ủy ban kiểm tra các Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển đổi số năm 2026 đã được triển khai. Cùng với đó là rà soát hạ tầng, thiết bị, đường truyền, chữ ký số và điều kiện phục vụ xử lý công việc trên môi trường điện tử.

Đến nay, 136/136 đơn vị đã hoàn thành rà soát, mua sắm, nâng cấp thiết bị đầu cuối; 136/136 đơn vị được trang bị chữ ký số. Tại Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, cán bộ, công chức được trang bị máy tính, máy in phục vụ công việc; các phòng được trang bị máy quét, thiết bị lưu trữ dữ liệu mật và các điều kiện cần thiết để xử lý công việc.

Cùng với hạ tầng, các nền tảng số được đưa vào sử dụng ngày càng thường xuyên. Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp trong các cơ quan Đảng, Sổ tay đảng viên điện tử, các phần mềm phục vụ giám sát thường xuyên, tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, cơ sở dữ liệu thống kê của ngành Kiểm tra Đảng... đang trở thành những công cụ hỗ trợ hoạt động chuyên môn.

Tỷ lệ văn bản không mật được xử lý trên Hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp của Đảng đạt gần 100%; tỷ lệ phát hành văn bản toàn trình trên hệ thống đạt 100%. Những con số này cho thấy sự thay đổi đang diễn ra không chỉ ở thiết bị mà cả trong phương thức xử lý công việc hằng ngày.

Khi hồ sơ được số hóa, dữ liệu phải “sống”

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng ở Nghệ An là chỉnh lý, số hóa hồ sơ, tài liệu. Đây là công việc không đơn giản. Mỗi hồ sơ phải được rà soát, phân loại, chỉnh lý, sắp xếp, thống kê và số hóa theo quy định. Chất lượng của dữ liệu đầu vào quyết định khả năng khai thác về sau. Nếu chỉ quét tài liệu thành những tệp điện tử mà không chuẩn hóa, phân loại và cập nhật, thì về bản chất mới chỉ là “chụp lại” hồ sơ giấy.

Cán bộ Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy trao đổi kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ về chuyển đổi số.

Cán bộ Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy trao đổi kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ về chuyển đổi số.

Tại Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, giai đoạn 2025-2030 đã chỉnh lý 22/22 hồ sơ, đạt 100%, với 6.971 trang được chỉnh lý và số hóa. Ngoài ra, 1.757 văn bản với 8.689 trang tài liệu cũng đã được chỉnh lý, số hóa. Trong 6 tháng đầu năm 2026, 100% hồ sơ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng thuộc phạm vi thực hiện đã được chỉnh lý, số hóa.

Đối với ủy ban kiểm tra các Đảng ủy trực thuộc, 136/136 đơn vị đã hoàn thành chỉnh lý hồ sơ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng từ ngày 1/7/2025 và hoàn thành số hóa hồ sơ.

Những con số ấy cho thấy một khối lượng công việc lớn đã được thực hiện. Nhưng đây mới là nền móng. Đích đến của chuyển đổi số không phải là có thật nhiều hồ sơ điện tử, mà là dữ liệu có thể được sử dụng để phục vụ công việc. Thực tế cũng đang đặt ra điểm nghẽn ở chính khâu này. Việc cập nhật hồ sơ lên hệ thống quản lý hồ sơ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng chưa thể thực hiện đầy đủ do hệ thống quản lý hồ sơ và báo cáo thống kê chưa kết nối được. Vì vậy, khi thực hiện báo cáo thống kê định kỳ, nhiều nội dung vẫn phải tổng hợp thủ công.

Điều đó cho thấy một nghịch lý cần sớm tháo gỡ: Hồ sơ đã được số hóa nhưng dữ liệu chưa thực sự “sống” trong hệ thống. Chuyển đổi số chỉ tạo ra giá trị khi dữ liệu được cập nhật, kết nối và khai thác. Một cơ sở dữ liệu tốt phải giúp cán bộ tìm kiếm nhanh hơn, tổng hợp chính xác hơn, theo dõi tiến độ thuận lợi hơn và hỗ trợ nhận diện vấn đề cần quan tâm. Nếu dữ liệu vẫn nằm ở những tệp riêng lẻ, không kết nối, không thể khai thác, thì hiệu quả chuyển đổi số chưa tương xứng với nguồn lực đã đầu tư. Đây cũng là lý do thời gian tới Nghệ An cần chuyển mạnh từ tư duy “hoàn thành số hóa” sang “khai thác và sử dụng dữ liệu”.

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu bảo mật, càng đưa nhiều công việc lên môi trường số, nguy cơ mất an toàn thông tin càng phải được nhận diện đầy đủ. Với ngành Kiểm tra Đảng, bảo mật không phải là một công đoạn bổ sung sau khi xây dựng hệ thống mà phải được đặt ngay từ thiết kế, tổ chức vận hành và khai thác dữ liệu.

Tại Nghệ An, công tác tuyên truyền, quán triệt quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng, an toàn thông tin được tăng cường. Việc quản lý tài khoản, phân quyền truy cập, sử dụng thiết bị, lưu trữ, truyền nhận và xử lý tài liệu được thực hiện chặt chẽ. Các đơn vị phối hợp với văn phòng cấp ủy và cơ quan chức năng rà soát hệ thống mạng, thiết bị công nghệ thông tin; bổ sung, thay thế thiết bị không đáp ứng yêu cầu; thực hiện các biện pháp bảo mật theo quy định.

Một nguyên tắc đang ngày càng rõ trong quá trình này là: Không phải mở rộng tối đa quyền truy cập, mà phải mở rộng khả năng khai thác đúng thẩm quyền. Càng nhiều dữ liệu, càng phải phân quyền rõ; càng nhiều kết nối, càng phải kiểm soát chặt.

Không né tránh điểm nghẽn

Chuyển đổi số là quá trình mới, khó và không thể hoàn thành chỉ bằng việc mua sắm thiết bị hay ban hành kế hoạch. Thực tiễn ở Nghệ An cho thấy vẫn còn những điểm nghẽn cần được nhận diện thẳng thắn.

Ở một số địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, chất lượng hạ tầng, đường truyền chưa thật sự ổn định. Nhân lực có kỹ năng kỹ thuật để vận hành hệ thống, xử lý sự cố và bảo đảm an toàn thông tin còn thiếu. Có 27 địa phương chưa bố trí cán bộ chuyên trách phụ trách nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Một khó khăn khác là thiết bị mã hóa phục vụ xử lý tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước của Đảng chưa được trang bị đầy đủ cho ủy ban kiểm tra các Đảng ủy trực thuộc. Cùng với đó, hệ thống quản lý hồ sơ và báo cáo thống kê chưa kết nối, khiến một phần công việc vẫn phải thực hiện thủ công.

Những hạn chế này không làm giảm ý nghĩa của kết quả đã đạt được, mà cho thấy chuyển đổi số cần được tiếp tục theo hướng đồng bộ hơn.

Trước hết, cần sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, kết nối và thiết bị bảo mật, để dữ liệu đã được số hóa có thể được cập nhật, quản lý và khai thác trên hệ thống đúng quy định.

Cùng với đó, cần xây dựng dữ liệu theo hướng thống nhất, có cấu trúc, có khả năng tìm kiếm, tổng hợp, thống kê và phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Đầu tư cho công nghệ phải gắn với cải cách quy trình nghiệp vụ, tránh tình trạng đưa nguyên cách làm thủ công lên môi trường điện tử.

Con người vẫn là yếu tố quyết định. “Bình dân học vụ số” vì vậy không chỉ là phổ cập kỹ năng sử dụng công nghệ, mà cần từng bước hình thành đội ngũ cán bộ kiểm tra có khả năng làm việc với dữ liệu, hiểu yêu cầu bảo mật và biết khai thác công nghệ phục vụ nhiệm vụ chuyên môn.

Đặc biệt, cần đánh giá chuyển đổi số bằng hiệu quả thực chất, không chỉ bằng tỷ lệ thiết bị được trang bị hay số hồ sơ được số hóa. Một hệ thống chỉ thực sự phát huy giá trị khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ, kết nối thông suốt, cán bộ sử dụng được và thông tin đó hỗ trợ thiết thực cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát.

Từ những nền tảng đang được xây dựng, chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng ở Nghệ An đang bước qua một giai đoạn mới: Từ số hóa hồ sơ sang xây dựng dữ liệu, từ xử lý văn bản điện tử sang thay đổi phương thức làm việc, từ lưu trữ thông tin sang khai thác thông tin phục vụ nhiệm vụ. Đó cũng là bước chuyển từ “có dữ liệu” sang “dùng được dữ liệu”.

Khi dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả, cán bộ kiểm tra có thêm một công cụ để nắm tình hình sớm hơn, theo dõi sát hơn, phân tích khoa học hơn; công tác tham mưu vì thế cũng có thêm cơ sở để chủ động, chính xác. Khi đó, chuyển đổi số không còn là câu chuyện của máy tính, phần mềm hay những tập hồ sơ điện tử, mà thực sự trở thành một phương thức góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Và đó chính là đích đến mà ngành Kiểm tra Đảng Nghệ An đang hướng tới: Hiện đại hóa phương thức làm việc nhưng không buông lỏng kỷ luật; khai thác sức mạnh của dữ liệu nhưng luôn đặt bảo mật lên hàng đầu; ứng dụng công nghệ để công tác kiểm tra, giám sát chủ động hơn, chính xác hơn và sát thực tiễn hơn.

Trần Thị Vui - Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Nghệ An

Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-o-nghe-an-10353395.html