Chuyển giao công nghệ tại các trường đại học Hà Nội: Khơi thông dòng chảy tri thức

Hà Nội có nhiều trường đại học sở hữu tiềm lực nghiên cứu khoa học, đội ngũ chuyên gia và các nhóm nghiên cứu mạnh. Một số kết quả nghiên cứu đã được doanh nghiệp tiếp nhận, thương mại hóa, hình thành doanh nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của các cơ sở giáo dục đại học. Để tri thức thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần tháo gỡ những rào cản về cơ chế, tài chính và kết nối giữa nhà trường với thị trường.

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: PV

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: PV

Từ tiềm lực nghiên cứu đến những sản phẩm công nghệ

Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường đại học có thế mạnh về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Không chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo, các cơ sở này còn sở hữu hệ thống phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu và đội ngũ nhà khoa học có khả năng phát triển những công nghệ mới. Tuy nhiên, giá trị của hoạt động nghiên cứu không chỉ nằm ở số lượng công trình khoa học hay sáng chế được công bố, mà còn ở khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và giải quyết những vấn đề của thực tiễn.

Tại Đại học Quốc gia Hà Nội, hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đang từng bước được gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và địa phương. Năm 2025, doanh thu chuyển giao khoa học và công nghệ của đơn vị đạt trên 52 tỷ đồng. Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội tiếp nhận các đơn đặt hàng nghiên cứu và phát triển (R&D) trị giá trên 50 tỷ đồng. Nhà trường hiện có khoảng 50 nhóm nghiên cứu mạnh.

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy yêu cầu chuyển từ quản lý theo đầu việc sang tổ chức lực lượng nghiên cứu có khả năng tạo ra sản phẩm và giải quyết những bài toán lớn. Định hướng này được cụ thể hóa bằng việc phát triển các nhiệm vụ nghiên cứu theo ba hướng: Duy trì vai trò dẫn dắt nghiên cứu cơ bản; phát triển công nghệ chiến lược từ đặt hàng của doanh nghiệp, bệnh viện và nhu cầu quốc gia; đưa tri thức của Đại học Quốc gia Hà Nội vào giải quyết bài toán của địa phương. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị triển khai 5 chương trình nghiên cứu trọng điểm và 16 nhiệm vụ gắn với 8 nhóm công nghệ chiến lược, tiếp nhận 62 hồ sơ đăng ký sở hữu trí tuệ mới. Nhà trường cũng xác định thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa và khai thác tài sản trí tuệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, việc kết nối nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp cũng được xác định là hướng đi quan trọng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khoa học và công nghệ của trường đạt trên 41,2 tỷ đồng. Nhà trường có 99 đơn sở hữu trí tuệ, 37 văn bằng sở hữu trí tuệ và mạng lưới trên 500 doanh nghiệp đối tác.

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: PV

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: PV

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, yêu cầu đặt ra hiện nay là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và nhu cầu phát triển của xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đại học Bách khoa Hà Nội đang triển khai mô hình Design Factory, xây dựng không gian đổi mới sáng tạo liên ngành, nơi doanh nghiệp đưa các bài toán thực tế vào trường để cùng giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên phân tích, thiết kế, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm. Nhà trường cũng đề xuất đề án thí điểm theo cơ chế sandbox về thành lập và quản lý doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), hướng tới coi hiệu quả chuyển giao, thương mại hóa là một tiêu chí quan trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ.

Một hướng tiếp cận khác là gắn kết hoạt động đào tạo, nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh ngay trong hệ sinh thái doanh nghiệp. Tại Trường Đại học Phenikaa, mô hình liên kết giữa nhà khoa học, nhà trường và doanh nghiệp được tổ chức theo chu trình từ đào tạo, nghiên cứu đến hoàn thiện sản phẩm, chuyển giao, sản xuất và thương mại hóa. Lợi thế của mô hình này là doanh nghiệp có thể tham gia đặt hàng, xác định nhu cầu công nghệ, đồng thời tạo môi trường để thử nghiệm và ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Đáng chú ý, Trường Đại học Phenikaa đã xây dựng được hệ sinh thái với 7 doanh nghiệp spin-off và startup công nghệ. Việc hình thành các doanh nghiệp từ hệ sinh thái đại học mở ra một con đường đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm, tiếp cận trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Phenikaa. Ảnh: Phenikaa

Nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Phenikaa. Ảnh: Phenikaa

Tại VinUni, hoạt động nghiên cứu được định hướng gắn với những bài toán thực tiễn của địa phương và doanh nghiệp. Theo TS. Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học VinUni, nhà trường tham gia dự án nghiên cứu, ứng dụng công nghệ nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội, với sự phối hợp của Vingroup và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Dự án ứng dụng công nghệ cảm biến, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để thu thập, phân tích dữ liệu chất lượng không khí theo thời gian thực. Các cảm biến được lắp đặt trên phương tiện XanhSM và VinBus, qua đó tận dụng mạng lưới phương tiện đang hoạt động để thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá chất lượng không khí.

Những trường hợp trên cho thấy các trường đại học tại Hà Nội đã có những cách tiếp cận khác nhau trong chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, những kết quả bước đầu chưa có nghĩa hoạt động chuyển giao đã trở thành một dòng chảy thường xuyên, ổn định trong các cơ sở giáo dục đại học.

Gỡ điểm nghẽn để thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ, thiếu những cơ chế hợp tác ổn định và dài hạn.

Theo bà Lê Mai Lan, thực tế triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tại Hà Nội cho thấy tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả do thiếu liên kết chiến lược giữa các chủ thể. Một trong những điểm nghẽn lớn là thiếu mô hình hợp tác chính thức, ổn định và cơ chế chia sẻ rõ ràng giữa các bên.

Thực tế này cho thấy, nếu chỉ dừng ở những thỏa thuận hợp tác chung mà chưa xác định được bài toán nghiên cứu, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của từng bên thì rất khó tạo ra những kết quả chuyển giao cụ thể. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, còn nhà trường phải có khả năng tổ chức các nhóm nghiên cứu đáp ứng yêu cầu về công nghệ, tiến độ và chất lượng sản phẩm.

Nghiên cứu về công nghệ giai rmax gen tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn, Trường Đại học VinUni. Ảnh: VF

Nghiên cứu về công nghệ giai rmax gen tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn, Trường Đại học VinUni. Ảnh: VF

Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính dành cho giai đoạn hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ cũng là vấn đề cần được quan tâm. Một kết quả nghiên cứu muốn trở thành sản phẩm thường phải trải qua quá trình thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện quy trình và chứng minh khả năng ứng dụng. Đây là giai đoạn đòi hỏi kinh phí đáng kể, trong khi khả năng huy động nguồn lực từ doanh nghiệp còn hạn chế, nhất là đối với những công nghệ mới có mức độ rủi ro cao.

Một vấn đề khác là cơ chế quản lý, khai thác tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích từ chuyển giao công nghệ. Khi một sáng chế được hình thành từ nguồn lực nghiên cứu của trường đại học, việc xác định quyền sở hữu, quyền khai thác và lợi ích của nhà khoa học, nhà trường, doanh nghiệp cần được quy định rõ ràng. Nếu thiếu cơ chế minh bạch, nhà khoa học có thể thiếu động lực đưa kết quả nghiên cứu vào thương mại hóa, còn doanh nghiệp cũng khó mạnh dạn đầu tư tiếp nhận công nghệ.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu đầu tiên là hoàn thiện cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp. Cùng với đó, cần phát triển các tổ chức trung gian chuyên nghiệp về chuyển giao công nghệ. Đây sẽ là đầu mối đánh giá tiềm năng thương mại của kết quả nghiên cứu, hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, tìm kiếm đối tác và đàm phán hợp đồng chuyển giao. Bởi trên thực tế, năng lực nghiên cứu của nhà khoa học không đồng nghĩa với khả năng tổ chức kinh doanh, tiếp thị và thương mại hóa sản phẩm. Một hệ thống hỗ trợ chuyên nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách này.

Cơ chế tài chính cũng cần được đổi mới theo hướng linh hoạt hơn, tạo điều kiện để các trường đại học chủ động sử dụng nguồn thu từ chuyển giao công nghệ tái đầu tư cho nghiên cứu. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ từ các trường đại học, nhất là trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược, có yêu cầu đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn dài.

Đối với doanh nghiệp spin-off và startup hình thành từ kết quả nghiên cứu, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp về vốn, pháp lý, cơ sở vật chất và kết nối thị trường. Đặc biệt, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ tại các trường đại học. Bên cạnh công bố quốc tế, số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích, cần quan tâm đến số hợp đồng chuyển giao, doanh thu thương mại hóa, số sản phẩm được doanh nghiệp ứng dụng và khả năng hình thành doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu.

Chuyển giao công nghệ không phải là công đoạn cuối cùng sau khi một đề tài nghiên cứu kết thúc, mà cần được tính đến ngay từ khi xác định nhiệm vụ khoa học. Khi doanh nghiệp thực sự tham gia đặt hàng, nhà trường chủ động tổ chức nghiên cứu, Nhà nước tạo cơ chế và nguồn lực hỗ trợ, kết quả nghiên cứu mới có điều kiện đi trọn con đường từ ý tưởng đến sản phẩm.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển. Với Hà Nội, khơi thông hoạt động chuyển giao công nghệ tại các trường đại học không chỉ giúp khai thác hiệu quả nguồn lực trí tuệ mà còn góp phần hình thành các sản phẩm công nghệ, doanh nghiệp công nghệ và động lực tăng trưởng mới cho Thủ đô.

Thu Hằng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/chuyen-giao-cong-nghe-tai-cac-truong-dai-hoc-ha-noi-khoi-thong-dong-chay-tri-thuc-1764239.html