Chuyên nghiệp hóa thể thao phải bắt đầu từ chuyên nghiệp hóa quản trị

Có một chi tiết đáng chú ý trong phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về phát triển thể dục, thể thao chiều 2.10.2026: Yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng bộ quy tắc quản trị đối với các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia, đánh giá năng lực hằng năm và công khai kết quả, hướng tới “chuyên nghiệp hóa liên đoàn trước khi chuyên nghiệp hóa thể thao”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ VHTTDL, các cơ quan liên quan vào chiều 2.10.2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ VHTTDL, các cơ quan liên quan vào chiều 2.10.2026

Đằng sau một câu nói ngắn là vấn đề căn cốt hơn nhiều của thể thao Việt Nam: Muốn có nền thể thao chuyên nghiệp thì trước hết phải có một hệ thống quản trị chuyên nghiệp. Thành tích trên sân đấu suy cho cùng là phần nổi, phía dưới những tấm huy chương là thể chế, cách phân bổ nguồn lực, quy trình tuyển chọn, chất lượng huấn luyện, khoa học thể thao, tài chính, dữ liệu và trách nhiệm của từng chủ thể.

Từ quản lý một nền thể thao đến quản trị một hệ sinh thái

Trong một thời gian dài, nói đến phát triển thể thao thường dễ tập trung vào những câu hỏi rất cụ thể: môn nào giành huy chương, vận động viên nào được đầu tư, đội tuyển nào được tập huấn nước ngoài, cơ sở nào cần xây mới. Những vấn đề ấy đương nhiên quan trọng. Nhưng khi thể thao bước sang một giai đoạn phát triển mới, câu hỏi lớn hơn phải là: Toàn bộ hệ thống đang được vận hành như thế nào?

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ngày 2.10 đặt vấn đề khá rõ: Phải phân định vai trò nào Nhà nước thực hiện, vai trò nào liên đoàn thực hiện; việc Nhà nước giao thì ai chịu trách nhiệm; kinh phí nào được ngân sách hỗ trợ, nguồn lực nào huy động từ xã hội; quyền lợi vận động viên được bảo đảm ra sao; tuyển chọn đội tuyển, sử dụng kinh phí và tổ chức thi đấu phải được công khai như thế nào.

Đó chính là chuyển dịch từ tư duy “quản lý hoạt động” sang “quản trị hệ thống”.

Quản lý thường chú trọng xem một công việc có thực hiện đúng quy định hay không. Quản trị đi xa hơn: xác định ai có quyền quyết định, ai chịu trách nhiệm về quyết định đó, nguồn lực được phân bổ theo tiêu chí nào, kết quả được đo bằng gì và cơ chế nào buộc người được trao quyền phải giải trình.

Sự khác biệt tưởng nhỏ nhưng có thể quyết định chất lượng của cả nền thể thao.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao năm 2018 hiện vẫn còn hiệu lực, tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thể dục, thể thao. Trong cấu trúc phát triển ấy, các tổ chức xã hội, liên đoàn và hiệp hội thể thao giữ vị trí ngày càng quan trọng. Chính vì vậy, khi xã hội hóa ngày càng sâu, Nhà nước không thể làm thay tất cả, nhưng trao quyền nhiều hơn cũng đồng nghĩa phải thiết lập những chuẩn mực quản trị cao hơn.

Nếu quyền được phân cấp mà trách nhiệm không được xác định, xã hội hóa rất dễ biến thành khoảng trống quản trị. Ngược lại, nếu Nhà nước vẫn can thiệp quá sâu vào những hoạt động mà liên đoàn, doanh nghiệp hoặc thị trường có thể thực hiện tốt hơn, nguồn lực xã hội lại khó phát huy.

Bài toán vì thế không nằm ở lựa chọn “Nhà nước hay xã hội”, mà ở phân vai đúng và thiết kế cơ chế để mỗi chủ thể làm đúng việc của mình.

Minh bạch phải trở thành một cấu phần của thành tích

Thể thao chuyên nghiệp không thể chỉ được nhận diện bằng tiền thưởng lớn hơn, giải đấu nhiều hơn hay số lượng vận động viên chuyên nghiệp tăng lên.

Một nền thể thao thực sự chuyên nghiệp cần chuyên nghiệp từ cách ra quyết định.

Vì sao một vận động viên được chọn vào đội tuyển, người khác không? Vì sao nguồn lực tập trung cho môn này thay vì môn khác? Tiêu chí lựa chọn huấn luyện viên là gì? Kinh phí được sử dụng ra sao? Đâu là trách nhiệm của liên đoàn, đâu là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước?

Những câu hỏi ấy càng được trả lời bằng các quy trình minh bạch, thể thao càng bớt phụ thuộc vào cảm tính, quan hệ hay những quyết định mang tính tình thế.

Bởi vậy, yêu cầu xây dựng bộ quy tắc quản trị cho các liên đoàn với các nội dung từ chuyên môn, tài chính, nhân sự, dữ liệu, tuyển chọn vận động viên đến bảo vệ quyền lợi vận động viên và trách nhiệm giải trình có ý nghĩa vượt ra ngoài một bộ tiêu chí hành chính. Nếu được thiết kế thực chất, đây có thể trở thành một “chuẩn vận hành” mới.

Hiện cả nước có 44 hội thể thao cấp quốc gia. Nhiều tổ chức đã phát triển mạng lưới câu lạc bộ, hội viên và tổ chức những giải đấu quy mô lớn bằng nguồn lực xã hội hóa. Khi quy mô hoạt động, nguồn thu và trách nhiệm xã hội ngày càng tăng, đòi hỏi về quản trị cũng phải tăng tương ứng.

Một liên đoàn mạnh, vì thế, không nên chỉ được đánh giá bằng số giải đấu tổ chức trong năm. Nó cần được nhìn qua khả năng phát triển môn thể thao từ cơ sở, tạo nguồn vận động viên, xây dựng hệ thống thi đấu, huy động nguồn lực, bảo vệ quyền lợi vận động viên, công khai tài chính và tạo dựng niềm tin với xã hội.

Khi đó, minh bạch không còn là yêu cầu mang tính thủ tục. Minh bạch trở thành năng lực cạnh tranh.

Nhà nước kiến tạo để nguồn lực xã hội được giải phóng

Thông điệp về quản trị liên đoàn thực chất nằm trong một tư duy rộng hơn được nêu tại buổi làm việc: chuyển từ “Nhà nước xây dựng và Nhà nước vận hành” sang “Nhà nước kiến tạo, xã hội đầu tư, thị trường vận hành và Nhà nước giám sát”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đồng thời yêu cầu nghiên cứu phát triển kinh tế thể thao theo hướng một hệ sinh thái hoàn chỉnh.

Ở đây, “kiến tạo” không đồng nghĩa Nhà nước rút khỏi thể thao. Trái lại, vai trò Nhà nước chuyển mạnh hơn về nơi cần thiết nhất: xây dựng luật chơi, chiến lược, tiêu chuẩn, hệ thống dữ liệu, cơ chế giám sát và bảo đảm công bằng.

Nhà nước càng bớt làm thay những việc xã hội có thể làm tốt thì càng có điều kiện tập trung vào những nhiệm vụ mà thị trường khó tự giải quyết: thể thao học đường, thể thao cộng đồng, phát triển tài năng trẻ, bảo đảm cơ hội tiếp cận cho các nhóm yếu thế, đầu tư nghiên cứu khoa học, xây dựng hạ tầng nền tảng và bảo vệ quyền lợi vận động viên.

Tinh thần đó cũng phù hợp với yêu cầu coi sức khỏe và thể lực người dân là một bộ phận của sức mạnh quốc gia, đưa thể thao ra khỏi cách nhìn thuần túy về thi đấu và huy chương để đặt vào chiến lược phát triển con người, chất lượng dân số và nguồn nhân lực.

Nhìn từ góc độ ấy, đổi mới quản trị liên đoàn không phải chuyện nội bộ của vài chục tổ chức thể thao. Đó là một mắt xích trong quá trình tổ chức lại hệ sinh thái thể thao quốc gia.

Và đây có lẽ cũng là tầng nghĩa sâu nhất của yêu cầu “chuyên nghiệp hóa liên đoàn trước khi chuyên nghiệp hóa thể thao”.

Chúng ta có thể tìm kiếm huấn luyện viên giỏi, thuê chuyên gia nước ngoài, tăng kinh phí, đưa vận động viên đi tập huấn ở những trung tâm hàng đầu thế giới. Nhưng nếu phía sau vẫn là một hệ thống vận hành thiếu dữ liệu, trách nhiệm chưa rõ ràng, nguồn lực phân tán và việc đánh giá phụ thuộc nhiều vào thành tích ngắn hạn, những khoản đầu tư ấy khó tạo nên năng lực bền vững.

Thể thao đỉnh cao trên thế giới ngày càng là cuộc cạnh tranh của những hệ thống chứ không đơn thuần là cuộc cạnh tranh giữa những cá nhân tài năng.

Bởi vậy, trước câu hỏi bao giờ thể thao Việt Nam có thể tiến xa hơn trên đấu trường châu lục và thế giới, có lẽ cần đặt thêm một câu hỏi đi trước: Bao giờ chúng ta xây dựng được một hệ thống quản trị đủ chuyên nghiệp để tài năng được phát hiện đúng, nguồn lực được đầu tư đúng và mọi chủ thể đều phải chịu trách nhiệm về phần việc của mình?

Khi câu hỏi ấy có lời giải, những tấm huy chương sẽ bớt phụ thuộc vào một thế hệ tài năng tình cờ xuất hiện. Chúng sẽ trở thành kết quả có thể kỳ vọng từ một hệ thống biết cách tạo ra tài năng, nuôi dưỡng tài năng và đưa tài năng tới đỉnh cao.

Đó mới là nền móng lâu dài của một nền thể thao chuyên nghiệp.

NGUYỄN ĐỖ

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/chuyen-nghiep-hoa-the-thao-phai-bat-dau-tu-chuyen-nghiep-hoa-quan-tri-271027.html