'Chuyển ngữ' di sản để trao truyền cho thế hệ trẻ

Hơn ba thập kỷ gắn bó với di sản Cố đô Huế, TS. Nguyễn Phước Hải Trung, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (Trung tâm) luôn trăn trở trước câu hỏi làm sao để di sản không chỉ nằm yên trong ký ức hay trang sách. Với ông, di sản chỉ thực sự 'sống' khi được trao truyền cho thế hệ trẻ.

Từ những suy tư đó, câu chuyện đưa di sản Huế vào trường học được hình thành như một cách gieo mầm tình yêu văn hóa cho thế hệ trẻ từ những bài học giàu trải nghiệm và cảm xúc.

Thưa ông, với góc nhìn người làm công tác bảo tồn di sản văn hóa, điều gì thôi thúc ông và đồng nghiệp dành nhiều tâm huyết cho các đề xuất đưa di sản Huế vào trường học, và theo ông giá trị lớn nhất mà học sinh nhận được từ di sản là gì?

TS. Nguyễn Phước Hải Trung: Tôi đã làm việc ở khu di sản Huế đã 33 năm. Tôi và nhiều thế hệ đồng nghiệp luôn trăn trở trước câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ "được giữ gìn", mà còn "được sống" trong đời sống đương đại. Chính điều đó đã thôi thúc những tâm huyết cho các đề xuất đưa di sản Huế gần hơn với môi trường trường học đường.

Nếu các em chỉ biết di sản qua sách vở khô cứng, thì tình yêu và ý thức bảo vệ sẽ khó hình thành một cách bền vững. Khi được tiếp cận di sản bằng trải nghiệm trực tiếp, tham quan di tích, nghe câu chuyện lịch sử, thực hành các loại hình nghệ thuật truyền thống, các em sẽ cảm nhận được chiều sâu văn hóa và giá trị tinh thần mà cha ông để lại.

Giáo dục di sản vì vậy không đơn thuần là một hoạt động ngoại khóa, mà cần được xem như một phần quan trọng của giáo dục toàn diện. Khi di sản Huế trở thành "lớp học mở", nơi học sinh được học bằng trải nghiệm, cảm xúc và sự tương tác, thì những giá trị văn hóa sẽ được truyền tiếp một cách tự nhiên, bền vững và có sức lan tỏa lâu dài trong xã hội.

Vào theo tôi, giá trị lớn nhất mà học sinh nhận được từ di sản không chỉ là tri thức lịch sử, mà còn là sự hình thành nhân cách và bản sắc văn hóa. Di sản giúp các em hiểu mình là ai, đến từ đâu, và có trách nhiệm như thế nào với cộng đồng. Từ đó, các em học được lòng tự hào dân tộc, ý thức trân trọng quá khứ, cũng như tinh thần gìn giữ và sáng tạo để di sản tiếp tục thích ứng với thời đại mới.

Ông đánh giá như thế nào về mức độ quan tâm của học sinh hiện nay đối với di sản Huế?

TS. Nguyễn Phước Hải Trung: Từ nhiều năm nay, giáo dục di sản trong trường học trên địa bàn TP. Huế do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế triển khai với các hình thức: Chương trình tham quan, tìm hiểu di sản; chương trình tham quan, trải nghiệm theo yêu cầu tại khu di sản Huế và chương trình giáo dục di sản khác. Riêng trong năm 2025, đã có 60.880 học sinh các cấp tại Huế cùng 4.176 giáo viên tham gia các chương trình giáo dục di sản ở Cố đô Huế.

Chương trình giáo dục di sản Huế được đưa vào hệ thống học đường với nhiều hoạt động trực quan, trải nghiệm tại các di tích như Đại Nội, lăng tẩm, bảo tàng… giúp học sinh không chỉ học trong sách giáo khoa mà còn trực tiếp tiếp xúc bằng các hình thức khác nhau.

Các chương trình như tham quan, trò chơi truyền thống, tìm hiểu di sản thông qua hoạt động tương tác thu hút hàng chục nghìn học sinh tham gia mỗi năm. Hoạt động được tổ chức rộng khắp từ cấp tiểu học đến THCS, THPT, giúp học sinh cảm nhận sâu hơn về lịch sử và văn hóa cố đô. Trẻ em và học sinh đang ngày càng có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với di sản, nhờ đó mở rộng hiểu biết và nuôi dưỡng tình yêu văn hóa địa phương từ sớm.

Qua các hoạt động như học sinh thưởng thức biểu diễn nghệ thuật cung đình, trải nghiệm cùng nhạc cụ; tham gia trò chơi truyền thống liên quan tới lịch sử Huế, tham quan thực tế tại di tích lịch sử và trải nghiệm nhiều hoạt động tương tác, nhiều em bộc lộ sự hứng thú, tò mò và mong muốn tìm hiểu sâu hơn về di sản. Những hoạt động này giúp chuyển hóa kiến thức lịch sử khô khan thành trải nghiệm thú vị, kích thích sự tò mò và sự trân trọng di sản trong các em.

Có thể khẳng định, mức độ quan tâm của học sinh đối với di sản Huế đang tăng lên rõ rệt nhờ các hoạt động trải nghiệm và giáo dục thực tế, đa số đều thể hiện sự hứng thú và yêu thích khi được trực tiếp khám phá lịch sử, văn hóa và nghệ thuật truyền thống.

Nhìn chung, mức độ quan tâm của học sinh đối với di sản Huế hiện nay khá tích cực và ngày càng được củng cố, đặc biệt khi di sản được đưa vào những trải nghiệm thực tế và hoạt động giáo dục hấp dẫn. Tuy nhiên, để đạt được sự quan tâm sâu rộng và bền vững hơn, cần tiếp tục cải tiến chương trình, mở rộng phạm vi hoạt động và tăng cường sáng tạo trong cách giáo dục di sản.

Từ thực tiễn triển khai, đâu là rào cản lớn nhất khi kết nối di sản với môi trường giáo dục, và thực tế Trung tâm đã có những cách làm sáng tạo nào để "di sản không chỉ nằm trong sách vở"?

TS. Nguyễn Phước Hải Trung: Giáo dục di sản không còn là câu chuyện mới của văn hóa giáo dục trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, câu chuyện này chỉ được đặt ra trong những năm gần đây. Huế bắt đầu manh nha thực hiện từ năm 2011 và đến nay, thú thực, rào cản lớn nhất vẫn là khoảng cách giữa di sản và nhà trường. Rào cản cốt lõi không chỉ nằm ở kinh phí hay nhân lực, mà là sự thiếu kết nối hiệu quả giữa nội dung di sản và chương trình giáo dục phổ thông.

Có thể nêu lên mấy ý như: Di sản bị "hàn lâm hóa", nội dung thuyết minh, tư liệu di sản thường mang tính học thuật, lịch sử chuyên sâu, khó tiếp cận với học sinh. Nếu không được "chuyển ngữ", di sản dễ trở thành kiến thức khô cứng.

Chương trình học quá tải, giáo viên chịu áp lực hoàn thành chương trình chính khóa nên khó dành thời gian tổ chức hoạt động trải nghiệm di sản một cách thường xuyên; thiếu đội ngũ trung gian giáo dục di sản bởi không phải hướng dẫn viên di sản nào cũng am hiểu tâm lý sư phạm, và không phải giáo viên nào cũng có kiến thức chuyên sâu về di sản; nhận thức chưa đồng đều, một số trường vẫn coi hoạt động di sản là ngoại khóa "phụ trợ", chưa xem đó là nguồn học liệu sống động gắn với giáo dục lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, đạo đức công dân… Và quan trọng hơn, di sản chưa được tích hợp một cách hệ thống, linh hoạt vào quá trình dạy, học chính khóa.

Với mong muốn để "di sản không chỉ nằm trong sách vở", trong nhiều năm qua, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế được xem là đơn vị đi đầu cả nước về giáo dục di sản gắn với học đường, với nhiều mô hình đổi mới. Di tích trở thành "lớp học mở", làm công cụ trực quan, làm ví dụ sinh động. Chúng tôi không chỉ đưa học sinh đi tham quan, mà tổ chức học tập trực tiếp tại di tích: học lịch sử triều Nguyễn ngay tại Hoàng thành; học kiến trúc, mỹ thuật tại lăng vua, cung điện; học nghi lễ cung đình tại Thế Miếu, Điện Thái Hòa,…giúp các em "chạm" vào không gian thật, thay vì chỉ đọc sách.

Nhiều chương trình trải nghiệm tương tác được xây dựng dành cho học sinh như "Em làm nhà khảo cổ nhỏ tuổi", "Em làm nhạc công Nhã nhạc", trải nghiệm thư pháp, in bản rập Cửu Đình, tô màu họa tiết cung đình…Ở đó, học sinh được nhập vai, thực hành, trải nghiệm, tự tìm hiểu, đặt câu hỏi, thay cho nghe thuyết minh một chiều.

Cùng với hoạt động trải nghiệm, Trung tâm đã phối hợp xây dựng chương trình giáo dục di sản theo từng cấp học; tổ chức tập huấn, trao đổi cùng giáo viên; thiết kế bộ học liệu, giáo trình di sản phù hợp lứa tuổi. Do vậy, di sản có thể trở thành tài nguyên giáo dục chính thức, không còn là hoạt động tham quan, giải trí.

Các cuộc thi, sân chơi sáng tạo như thi tìm hiểu di sản Huế thông qua các trò chơi, vẽ tranh, kể chuyện lịch sử; làm video, thuyết minh nhí…đã đưa học sinh trở thành chủ thể sáng tạo, không chỉ là người tiếp nhận.

Có thể nói, thành công lớn nhất của mô hình Huế là việc đưa di sản từ đối tượng bảo tồn sang công cụ giáo dục, từ tĩnh sang động, từ bảo tàng sang đời sống. Từ đó nuôi dưỡng tình yêu di sản từ sớm, góp phần hình thành ý thức bảo tồn bền vững và hướng đến xây dựng công chúng di sản tương lai.

Nhìn về lâu dài, ông kỳ vọng điều gì ở một thế hệ học sinh, sinh viên Huế nói riêng và cả nước nói chung khi được tiếp cận di sản từ sớm? Theo ông, cần những giải pháp nào để nuôi dưỡng tình yêu di sản một cách bền vững trong giới trẻ hôm nay?

TS. Nguyễn Phước Hải Trung: Huế là địa phương đi đầu và duy nhất ở cả nước thực hiện chính sách miễn phí tham quan cho học sinh trên địa bàn thành phố, thực hiện từ năm 2011. Từ năm 2026, lại miễn 100% phí tham quan cho học sinh cả nước và giảm 50% cho sinh viên cả nước. Thế hệ trẻ vì vậy có cơ hội và điều kiện để tiệm cận với di sản.

Khi học sinh, sinh viên Huế nói riêng và cả nước nói chung được tiếp cận di sản từ sớm, có thể kỳ vọng hình thành một thế hệ trẻ vừa hiểu sâu cội nguồn, vừa có năng lực sáng tạo để làm mới giá trị truyền thống.

Do vậy, kỳ vọng có thể hình thành ý thức bảo vệ và tự hào văn hóa: tiếp xúc sớm với di sản giúp các em nhận thức rõ giá trị lịch sử, thẩm mỹ, tinh thần của cha ông, từ đó xây dựng thái độ trân trọng, tự hào và trách nhiệm gìn giữ. Nhận thức di sản sẽ nuôi dưỡng bản sắc và nhân cách vì lẽ di sản không chỉ là hiện vật hay lễ hội, mà còn là hệ giá trị đạo đức, lối sống, nếp ứng xử. Điều này góp phần hình thành nhân cách hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Di sản có khả năng khơi gợi năng lực sáng tạo và khởi nghiệp văn hóa, thế hệ trẻ có thể biến di sản thành nguồn cảm hứng cho thiết kế, nghệ thuật, du lịch sáng tạo, truyền thông số, từ đó tạo ra giá trị mới cho xã hội.

Điều cần nói thêm là xã hội cần có giải pháp nuôi dưỡng tình yêu di sản một cách bền vững bằng cách đưa di sản vào giáo dục một cách sinh động; ứng dụng công nghệ và truyền thông số; số hóa di sản, xây dựng tour tham quan ảo, video ngắn, podcast, game hóa kiến thức lịch sử, văn hóa để phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của giới trẻ; khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia sáng tạo nội dung về di sản trên các nền tảng mạng xã hội; gắn bảo tồn với sinh kế và cơ hội nghề nghiệp; gia đình, nhà trường và xã hội cần cùng nhau tạo môi trường văn hóa lành mạnh, tôn vinh những tấm gương trẻ tích cực trong bảo tồn di sản.

Cuối cùng cần khẳng định rằng, khi di sản trở thành tài nguyên giáo dục, thế hệ trẻ sẽ được tiếp cận di sản từ sớm, không chỉ để biết mà quan trọng hơn là để hiểu, để yêu và để hành động. Nếu được định hướng đúng, thế hệ học sinh, sinh viên hôm nay có thể trở thành lực lượng nòng cốt vừa gìn giữ, vừa làm mới di sản bằng nhiều cách thức để góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam chủ động hội nhập trong tiến trình phát triển.

Trân trọng cảm ơn ông!

Theo baochinhphu.vn

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/chuyen-ngu-di-san-de-trao-truyen-cho-the-he-tre-5078282.html