Chuyện trong giờ Văn

Có những bài học trong sách giáo khoa dạy nhiều năm vẫn không cũ.

Minh họa/INT

Minh họa/INT

Không phải vì chúng có quá nhiều điều để giảng, mà vì mỗi lần giảng lại, cuộc đời bỗng gửi đến một chi tiết mới để mình hiểu tác phẩm thêm một chút. Với tôi, Vợ nhặt của Kim Lân là một bài học như thế.

Năm nào đến đoạn “thị” theo Tràng về nhà, trong đầu tôi cũng thấp thoáng hiện lên hình ảnh cô em gái con chú của mình. Tôi vẫn thích nhất hai chi tiết Kim Lân viết khi người đàn bà vừa bước vào “cái nhà vắng teo đứng rúm ró...”. Thị chỉ dám ngồi “mớm xuống mép giường”. Rồi bỗng “quái sao nó lại buồn thế nhỉ”, lặng lẽ nén một tiếng thở dài. Một câu văn ngắn mà ám ảnh.

Từ một người “cong cớn”, “chỏng lỏn”, “sầm sập”, thị bỗng trở nên hiền hậu, e dè, dịu dàng. Có lẽ tình yêu không chỉ làm con người vui. Đôi khi, trước một ngưỡng cửa mới, nó còn đánh thức một nỗi buồn rất người.

Em gái tôi ngày ấy học hết lớp 9 thì vào Đồng Nai làm công nhân may. Trong xưởng, em quen một chàng trai quê Thanh Chương. Hai người yêu nhau. Nhưng chú mự tôi chỉ có hai người con, mà quê tôi ai cũng mong con cái lấy vợ, lấy chồng gần để còn qua lại sớm hôm, nên ban đầu không đồng thuận.

Hồi ấy, nhà tôi có chiếc điện thoại bàn. Mỗi lần cậu ấy gọi về, lại nhờ tôi sang gọi em. Tôi không nghe hết những câu chuyện trong máy, chỉ nhìn thấy ánh mắt em mỗi lần chạy sang nghe điện thoại. Chừng ấy cũng đủ biết hai đứa thương nhau nhiều. Rồi gia đình xuôi lòng. Chú mự nhờ tôi cùng một anh con cậu đưa em lên Thanh Chương xem gia cảnh. Ngày ấy muốn lên đó còn phải qua đò.

Sau một hành trình dài, chúng tôi đến một làng quê thưa vắng. Ngôi nhà cấp bốn lợp mái cọ hiện ra đơn sơ đến quặn lòng. Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc em bước qua bậc cửa. Khuôn mặt em chùng xuống. Một nỗi buồn rất khẽ thoáng qua.

Có lẽ em buồn khi nhìn thấy cuộc sống nghèo khó của người mình sắp gắn bó. Có lẽ em buồn vì thương chàng trai đang lặng lẽ thắp nén hương lên bàn thờ ông bà. Cũng có thể em chỉ buồn vì từ giây phút ấy, con đường phía trước sẽ khác.

Nhưng lạ thay, chính nỗi buồn ấy lại khiến tôi tin vào tình yêu của hai người hơn bất cứ lời hứa nào. Bởi nếu chỉ yêu một giấc mơ, người ta sẽ dễ quay lưng khi giấc mơ không giống tưởng tượng. Còn khi dám buồn trước hiện thực mà vẫn bước tiếp, ấy mới là lúc tình yêu bắt đầu có sức nặng của một cuộc đời.

Giờ đây, sau bao năm, họ đã có một gia đình êm ấm, những đứa con lớn lên trong tiếng cười. Mỗi lần đọc đến câu văn của Kim Lân: “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ?”, tôi lại nhớ gương mặt em hôm ấy. Rồi chợt nghĩ, có những nỗi buồn không cần phải xua đi. Bởi nhiều khi, chính chúng là bằng chứng rằng trái tim mình vẫn còn đủ mềm để yêu một con người, thương một phận người và can đảm bước vào ngày mai.

Cũng vì mang theo suy nghĩ ấy nên trong một tiết học khác, khi đi đến phần rút ra tư tưởng của Vợ nhặt, tôi nói với học trò bằng giọng chậm hơn thường lệ.

Tôi bảo, điều Kim Lân để lại không chỉ là bức tranh thảm khốc của nạn đói năm 1945, mà còn là một niềm tin rất đẹp vào con người. Giữa lúc cái chết lởn vởn khắp nơi, Tràng vẫn đưa một người đàn bà xa lạ về làm vợ, bà cụ Tứ vẫn mở lòng đón nhận con dâu, còn “thị” vẫn nén tiếng thở dài để bước vào một mái nhà nghèo.

Tình yêu thương không làm nạn đói biến mất, nhưng nó cứu con người khỏi sự tuyệt vọng. Khi còn biết thương nhau, còn dám vun vén cho một mái ấm giữa những ngày tăm tối nhất, ấy là lúc sự sống đã thắng cái chết một bước.

Rồi, như một thói quen của người đứng lớp, tôi mở rộng thêm. Tôi nói rằng việc Tràng lấy vợ không chỉ là khát vọng có một gia đình, mà còn là trách nhiệm nối dài sự sống.

Vừa dứt lời, một bạn nam ở cuối lớp nói lớn:

- Thầy ơi, không lấy vợ vẫn duy trì được nòi giống mà.

Tôi chưa kịp đáp thì cả lớp đã cười ồ rồi vỗ tay rào rào. Tiếng vỗ tay hôm ấy không làm tôi khó chịu. Ngược lại, nó khiến tôi khựng lại.

Quả thật, nếu xét theo logic, trò nói không sai. Kết hôn và việc sinh con không phải lúc nào cũng đồng nhất. Nếu cứ giữ nguyên cách diễn đạt vừa rồi, tôi sẽ vô tình biến một tầng nghĩa văn học thành một kết luận quá tuyệt đối.

Tôi nhìn xuống lớp rồi cười.

- Được, thầy sửa lại.

Cả lớp lập tức im.

Tôi nói tiếp, trong Vợ nhặt, Kim Lân không bắt chúng ta phải hiểu rằng ai cũng có bổn phận lấy vợ hay lấy chồng. Điều ông muốn nói là, giữa nạn đói, việc Tràng đón một người đàn bà về nhà là lựa chọn đứng về phía sự sống: dựng một mái ấm, nhận lấy trách nhiệm với một con người khác và nuôi giữ hi vọng cho ngày mai. Sự tiếp nối ở đây trước hết là sự tiếp nối của niềm tin vào cuộc đời.

Lúc ấy, tôi chợt nhận ra điều đáng quý nhất của một tiết học nhiều khi không nằm ở việc thầy nói đúng ngay từ đầu, mà ở chỗ lớp học đủ cởi mở để một học trò dám phản biện, còn người thầy đủ bình tĩnh để nghe hết một ý kiến trước khi giải thích hoặc tự điều chỉnh cách diễn đạt của mình.

Trong nghề dạy học, chúng ta thường nói nhiều đến việc lắng nghe học sinh. Nhưng lắng nghe không chỉ là để an ủi khi các em buồn, mà còn là lắng nghe cả những câu hỏi bất ngờ, những lập luận sắc sảo, thậm chí cả những phản biện khiến mình phải dừng lại vài giây giữa bục giảng.

Có phản biện rất hồn nhiên. Có phản biện rất sắc. Có phản biện chưa đúng. Nhưng nếu người lớn vội gạt đi chỉ vì muốn giữ uy của mình, có lẽ chúng ta sẽ đánh mất thứ quý hơn cả một đáp án: sự can đảm cất tiếng nói của học trò.

Từ hôm ấy, mỗi khi bước vào lớp với Vợ nhặt, tôi vẫn mang theo hai bài học. Một bài học Kim Lân gửi trong câu văn “quái sao nó lại buồn thế nhỉ”. Và một bài học học trò gửi lại cho tôi bằng một câu nói bật ra giữa tiếng cười của cả lớp.

Hóa ra, có những bài học Văn không chỉ nằm trong trang sách. Chúng còn nằm trong ánh mắt của một người con gái trước một mái nhà nghèo, và trong khoảnh khắc một người thầy chấp nhận sửa lại một câu nói của chính mình. Có lẽ, đó cũng là lúc việc dạy và việc học gặp nhau ở điều đẹp nhất: cùng đi tìm một cách hiểu đúng hơn về con người.

Phương Đình

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/chuyen-trong-gio-van-post795337.html